Houston 9-18-1994
Em yêu thương ,
Trong bong tối quen thuộc của bốn bức tường, anh nằm đấy đơn côi như lắng nghe thì thào về một ngày tháng nào đó, có sông,có nước,có những cánh diều mất hút vào bóng đêm. Anh muốn thời gian như mực nước thủy triều ngừng lại ở một nơi để có một chút nào vớt vát, níu kéo để anh được gần bên em một chuỗi quá khứ êm đềm và rồi anh đã thiếp đi lềnh bềnh êm ái đi vào giấc ngủ nhẹ tênh. Ở đấy anh tìm lại những con dế mèn rên rỉ thâu đêm .Ở đấy, anh bắt gặp những con ốc nhồi bám víu trên cành lá chuội.Ở đấy, em đã tìm gặp em, một thế giới tuổi thơ
Mà bây giờ, một phần nào đã là của anh …
Buổi sáng, anh cũng chẳng biết là mấy giờ, nhìn ra ngoài trời còn đang tối,anh đã chợt tỉnh dậy như một thói quen để bắt đầu một ngày trong đời .Trong cái khoảnh khắc phù du anh chợt có ý nghĩ, tất cả hôm nay một ngày thật trống vắng, thật yên tĩnh anh sẽ để dành cho em. Cho những giây phút của một buổi sáng chủ nhật cuối tuần, ra ngồi ngoài vườn trong cái khỏang không chỉ một mầu đen, anh biết rằng lúc này em đang chìm đắm trong giấc nồng và anh vần ngồi đây nhìn vào khỏang trống bao la, đắm mình trong phiêu bồng mông lung gần như không định hướng nhưng cuối cùng anh cũng đã về bến mơ, để thả hồn nghĩ về em trong cái lành lạnh mang mác của một sớm thu về,một chút thanh thóat của tâm hồn ,một chút mượt mà của da thit. Dường như cómột cái gì tương phản trong anh, nửa muốn trời chóng sáng để đựợc nhìn những giọt sương mai đọng trên những phiến lá xanh, óng ánh và tươi mát nhưnhư hình bóng em,nửa anh muốn mặt trời vẫn ngủ yên để anhđể anh ngồi trong bóng tối với giấc mộng trầm kha và để em có một giấc ngủ trọn vẹn với những mộng và mơ …
Anh đã đến với em như một sự tình cờ, không mời mọc, không tính tóan như một định mệnh đã an bài và anh cũng sẽ không bao giờ quên được cái ngày hôm ấy, một khúc quanh của cuộc sống với muôn ngàn chữ nếu, nếu em có một chút phấn son cho đời them hương, nếu em có một chút khép kín, thụ động thì có lẽ anh sẽ giữ một khỏang cách nào đó để chẳng có ngày hôm nay.Như vô hình chung và ngược lại em đã thản nhiên và lừng lững đến với anh như một tha nhân đứng bên lề cuộc đời ..Em đã ngồi đấy, hồn nhiên và vô tư và anh cũng ngồi đấy, có mặt như cậu học trò mới lớn, lạc lõng, ngơ ngác trong ngày khai trường của một ngày đâu đời . Và còn hơn thế nữa, đối diện với em anh đã bối rối mông lung với những suy nghĩ riêng tư, có một lúc nào đó anh bắt gặp em qua đôi mắt buồn nửa như thách thức, nửa như trốn chạy và them nữa, cũng có lúc nào đó, qua thế ngồi ngả nghiêng như kêu gọi, như ơ hờ …Ngay lúc ấy anh tự biết rằng, anh đã buông xuôi để chìm trong mê lộ, đành chấp nhận rằng mình là kẻ thua cuộc ….
Sau đó, cả một tuần lễ dài, anh như người mông du qua cơn say trong giấc ngủ chập chờn nửa mê nửa tỉnh, anh đã bị em chấn áp ngay trong những phút phù du đầu của cuộc chiến .Anh đã bị em quật ngã một cách tàn bạo không tiếc thương, lạnh lung đến tàn nhẫn và anh cũng đã đảo điên trong cái thú đau thương nghiệt ngã ấy …Đà từ lúc nào, đã từ lâu lắm, từ những ngày mới lớn anh cũng có những hình bóng, đôi môi,nụ cười..anh cũng có những giây phút bàng bạc, xa vắng, đến rồi đi nhớ rồi quên.. ký ức cứ ẩ hiện mờ mờ,ảo ảo . Tất cả như khác biệt không như lúc này,dữ dôi, cuồng nhiệt như một cơn bão biển anh như say sóng và rơi vào khỏang chân không, chới cới khôn cùng .Khuôn mặt láu lỉnh, nụ cười trêu ngươi,dáng đi bất cần đời,no tròn và màu mỡ . Tất cả đã đè nặng lên anh, bám cứng lấy anh từ sáng sớm cho đến chiều tối,đeo đuổi anh từ bgày nay sang tháng nọ và anh đã đuối sức rã rời qua vóc dáng mờ mờ nhân ảo của em. Anh đã khốn đốn vật vã qua tiếng thở dài như đi vào giấc mộng trần ainhưng có một điều anh đã không tự dối lòng, những giây phút yếu đuối ấy anh đã cố gắng hình dung khuôn mặt quen thuộc của em nhưng anh đành chịu, một cái gì thật bình thường nhưng anh không hiểu nổi, cuối cùng anh lại phải mò mẩm, lục lọi, tìm kiếm em qua tấm hình nhỏ bé, những nét đan thanh của một ngày xưa Hòang thị, một chứng tích có thâ,t gần như không tưởng, lại một lần nữa anh buông xuôi qua tiếng thở ngắn than dài đành chấp nhận một thực tại mình là kẻ thua cuộc . anh hung gẫy cánh …Trực diện với em anh đà quá nhỏ bé với đầy rẫy tự ty,một phần nào như em đã viết vượt quá tầm tay và chẳng bao giờ với tơi…
Vô hình chung những sáng trưa chiều tối, niềm ưu ẩn ấy, cơn ác mộng ấyđã luôn trĩu nặng trên anh, anh đã mong đợi để đợi mong,và rồi vào một buổi chiều vô định anh đã may mắn như vô tình vượt qua được đọan đường khốn khổ ấy, gần như một phép lạ, anh đã cảm xúc run runđể ngôn từ “anh yêu em”đi vào không gian và được em đón nhận.Một buổi chiều thâ,t đẹp, có gió heo may, có nắng nhạt và anh như người mộng du trong cơn mưa tình anh chẳng còn biết mình là ai,say tình say người,ngày xưa Hòang thị đã theo anh trên suốt đường về và bây giờ anh đang đánh vật với chữ nghĩađể mình hỏi mình, như vâ,y có phải là tình yêu không em ?
Và anh đã mệt mỏi, rã rời với những cái ngáp lệch ngườinhưng đầy ắp hạnh phụcAnh cũng có những giây phút lắng đọng ,khép mình trong bóong tối ở mô,t góc nhàđể vẫn vơ,vơvãn đi tìm một câu trả lợi Một thực tại, từ những ngày biết thế nào là rung động, biết thế nao là nhớ, là mong, cả một khỏang thời gian dài mà đơn vị được tính bằng năm,nhìn xuống đôi bàn tay10 ngóncó dài có ngắn cũng như bấy nhiêu cuộc tình đã qua . Thực tế phũ phàng là gần nửa cuộc đời đi sớm về tru+anh đã tự nhận như mình mới biết yêu lần đầu, khờ dại và non nớtnhư ngu ngơ cắn phải trái ớt hiểm,cay xé lưỡi để nhớ đời, để chẳng bao giờ quên và rồi cũng lẫn thẫn tự hỏi như vậy có phải là tình yêu phải không em ?
Ngay từ lúc này,ngồi trong bong tối mông lung,đầu óc anh như tê dại, đông cứngđể chẳng có câu trả lời nào cho thõa đáng, đểchẳng có một lời kết chung chung, anh chợt nghĩ rằng đẹp nhất anh mường tượng đến một ngày hai đứa mình nằm bên nhau,đầu gối tay kề, anh sẽ triu mến đặt lên bờ môi mọng của em một nụ hôn và để thủ thỉ thì thầm hỏi em câu hỏi ấyvà anh biết rằng em sẽ nhắm mắt mơ màng đón nhận như một câu trả lời,giữa anh và em,trong bong tối không một khỏang trống,hai chúng mình cùng đi tìm một tình yêu đích thực ,đúng nghĩa,đơn thuần và bình dị ….Qua những giây phút mặc khải ấy anh đã tìm thấyanh đã yêu em vô vàn như những ngày nào, tự lâu lắm, bây giờ và mãi mãi …………
Phi Ngọc Hùng
...
Thứ Bảy, 30 tháng 7, 2011
Thứ Năm, 21 tháng 7, 2011
Thứ Tư, 20 tháng 7, 2011
Bài thơ cho con
Có một tình yêu
lớn lao như đại dương
Có một trái tim
Suốt đời mẹ khắc ghi
đó là hình bóng con
Như một dòng suối nhỏ
Đưa mẹ đến đỉnh yêu thương
Tình yêu mẹ đã trọn dành cho con
Không gì đong đếm được
Ngày con vừa ra chào đời
Bao nụ cười chào đón
Ngày con vừa chập chững
Con ngã lòng mẹ đau
Ngày con vừa lớn khôn
con khóc lòng mẹ sầu ...
Mẹ dắt dìu con đi
mẹ nớm cho con ăn
Mẹ trông từng giấc ngủ
con hãy lớn khôn mau
từ hình hài lẫn ý nghĩ
mãi vẫn in hình bóng mẹ..
lớn lao như đại dương
Có một trái tim
Suốt đời mẹ khắc ghi
đó là hình bóng con
Như một dòng suối nhỏ
Đưa mẹ đến đỉnh yêu thương
Tình yêu mẹ đã trọn dành cho con
Không gì đong đếm được
Ngày con vừa ra chào đời
Bao nụ cười chào đón
Ngày con vừa chập chững
Con ngã lòng mẹ đau
Ngày con vừa lớn khôn
con khóc lòng mẹ sầu ...
Mẹ dắt dìu con đi
mẹ nớm cho con ăn
Mẹ trông từng giấc ngủ
con hãy lớn khôn mau
từ hình hài lẫn ý nghĩ
mãi vẫn in hình bóng mẹ..
Màu thời gian
Màu thời gian...
Hồi mình còn nhỏ hình như lớp đệ thất, đệ lục gì đó ...suốt ngày mình chỉ tẩn mẩn bên cái kệ sách cũ kỹ, mình còn nhớ đó là những quyển sách đủ thể loại được lưu giữ từ đời các anh chị lớn để lại.Trong thế giới tuổi thơ thần tiên của tôi lúc bấy giờ đã có "những người khốn khổ " của Victor Hugo với hình ảnh rất Việt Nam của một Lê Văn Đó khốn cùng của Hồ biểu Chánh ...Rồi "sans famill" đã làm tâm hồn tôi chìm đắm vào một cảnh đời lưu lạc của cậu bé mồ côi khốn khổ. Tôi đã từng thao thức như cậu bé trong đêm người cha ghẻ trở về thế là bao bột trứng gà ,bơ để làm bánh ăn mừng Tuần Thánh đã tan tành mây khói...Cậu đã lặng người khi nghe được những toan tính của người cha không muốn cậu sống yên ổn bên canh người mẹ mà cậu hằng yêu mến..Hình ảnh đã làm tôi rơi lệ là lúc câu phải bị bán cho một người gánh xiết rong trong buổi sáng mẹ cậu vắng nhà cậu mong ngóng mẹ câu trở về nên bước đi mà cậu cứ ngỏanh lại cho đến một lúc đứng trên ngọn đồi cao cậu vẫn nhìn thấy ngôi nhà thân yêu của mình còn lại bé xíu và hình như mẹ cậu đã về tới... cái bóng áo trắng của bà tất bật chạy ra chạy vào như thể tìm kiếm đứa con nhỏ khốn khổ của mình .Từ xa cậu nhìn thấy hình ảnh của bà mẹ giống như con bướm trắng vơi hai cánh bay chập chờn và cuối cùng cánh bướm đó cũng đã mất hút ....
Và tôi cũng rất yêu những trang sách nhóm Tự lực văn Đòan vơi hình ảnh rất đẹp của Khái Hưng "Nữa chừng xuân ", Nhất Linh với "Đọan tuyệt", Thạch Lam với "Gió đầu mùa"...,Sau này thì tôi mê mải với Thàng Vũ, con Thúy của Duyên Anh và cái êm đềm của tỉnh lỵ Thái Bình đã mênh mang cả tuổi thơ bé bỏng của tôi như là những chấm phá sâu đâm nhất không thể nào quên được.
Hồi mình còn nhỏ hình như lớp đệ thất, đệ lục gì đó ...suốt ngày mình chỉ tẩn mẩn bên cái kệ sách cũ kỹ, mình còn nhớ đó là những quyển sách đủ thể loại được lưu giữ từ đời các anh chị lớn để lại.Trong thế giới tuổi thơ thần tiên của tôi lúc bấy giờ đã có "những người khốn khổ " của Victor Hugo với hình ảnh rất Việt Nam của một Lê Văn Đó khốn cùng của Hồ biểu Chánh ...Rồi "sans famill" đã làm tâm hồn tôi chìm đắm vào một cảnh đời lưu lạc của cậu bé mồ côi khốn khổ. Tôi đã từng thao thức như cậu bé trong đêm người cha ghẻ trở về thế là bao bột trứng gà ,bơ để làm bánh ăn mừng Tuần Thánh đã tan tành mây khói...Cậu đã lặng người khi nghe được những toan tính của người cha không muốn cậu sống yên ổn bên canh người mẹ mà cậu hằng yêu mến..Hình ảnh đã làm tôi rơi lệ là lúc câu phải bị bán cho một người gánh xiết rong trong buổi sáng mẹ cậu vắng nhà cậu mong ngóng mẹ câu trở về nên bước đi mà cậu cứ ngỏanh lại cho đến một lúc đứng trên ngọn đồi cao cậu vẫn nhìn thấy ngôi nhà thân yêu của mình còn lại bé xíu và hình như mẹ cậu đã về tới... cái bóng áo trắng của bà tất bật chạy ra chạy vào như thể tìm kiếm đứa con nhỏ khốn khổ của mình .Từ xa cậu nhìn thấy hình ảnh của bà mẹ giống như con bướm trắng vơi hai cánh bay chập chờn và cuối cùng cánh bướm đó cũng đã mất hút ....
Và tôi cũng rất yêu những trang sách nhóm Tự lực văn Đòan vơi hình ảnh rất đẹp của Khái Hưng "Nữa chừng xuân ", Nhất Linh với "Đọan tuyệt", Thạch Lam với "Gió đầu mùa"...,Sau này thì tôi mê mải với Thàng Vũ, con Thúy của Duyên Anh và cái êm đềm của tỉnh lỵ Thái Bình đã mênh mang cả tuổi thơ bé bỏng của tôi như là những chấm phá sâu đâm nhất không thể nào quên được.
Như một định mệnh
Như một định mệnh ...
Houston,ngày 9-12-1994
Em yêu,
Buổi chiều ngồi ngoài vườn thật trống vắng, có một chút gì hoang tịch cô liêu của một ngày nhạt nắng và anh đã ngôi ở đấy qua những năm dài để nhìn bốn mùa qua mau, anh cũng đã ngồi ở đấy hằng tháng hằng ngày để tìm sự đổi thay của chính minh. Để rồi cũng vẫn vậy, vẫn gốc cây ngọn cỏ,anh vẫn là anh, trơ trụi và nhàm chán.Nếu có sự khác biệt nào thì hình như anh mất đi nỗi hoài cảm nhớ nhà trong khói thuốc khói vàng bay lên cây của những năm đầu trên đất khách quê người. Một phần vì đã giã từ khói thuốc lại thiếu tách cà phê đen,mất ngủ đã quá nhiều, thao thức chập chờn trong cái khỏang nửa đêm về sáng để tôi nhìn tôi trên vách.Thực sự thì trong lúc này anh chẳng biết nghĩ gì,viết gì chỉ biết rằng mình đang hòa nhập vào khỏang bao la của trời đất với mảnh vườn thu hẹp và biết mình đang có mặt,có cây có cỏ,có đá có nước, như phiêu liêu ngập lội cho cuộc tình,thả hồn xa xa thêm một chút nữa dù đã muộn màng nhưng vẫn sâu đậm và mãnh liệt như khi anh nhìn thấy lác đác một hai chiếc lá vàng rơi theo ngọn gió ...Cũng có thể khỏang thời gia này anh đã lơ đểnh với cái đẹp mênh mang của thiên nhiên để đắm chìm trong cái đẹp của tạo hóa khóe mắt,nụ cười. Dường như trong anh đang có sự biến đổi của một cơn bão ngầm ..Và cũng một hai chiếc lá vàng ấy như báo hiệu một chớm thu về và mùa thu là mùa của tình yêu lá bay tường bắc lá bay sang và em như hiện thân của một Ngày xưa Hòang thị, em tan trường về , đường mưa nho nhỏ..Và anh đang đi tìm về một ngày nào của năm tháng đã qua, tình yêu học trò chẳng còn nữa để bù đắp vào những mất mát ấy anh đã đi tìm em trong cái nhá nhem của thành phố mới lên đèn để có những phút giây lắng đọng, đợi và mong, nhớ và thương mà chúng mình đã tìm nhau trong góc vắng để được cận kề nhau trong vòng tay, nồng nàn ngất ngây anh như chưa bao giờ biết yêu...
Đã có một lúc nào đó anh như hụt hơi thiếu sức với muôn ngàn chữ "nếu"..tiếc nuối thời gian,anh đếm thời gian qua những chân tóc đã ngã màu và lại một lần nữa,anh lần mò về quá khứ.Ở cáituổi mười chín hai mươi, một nửa thời gian đi học anh đã chôn vùi tuổi trẻ trong quán cafe bên đường băng những điếu thuốc lá, bằng những tách cà phê đen và tự hỏi tôi phải làm gi để không phao phí tuổi trẻ ..nhưng rồi ngày tháng vẫn đong đưa ,anh đếm thời gian bằng những cuộc tình như những mùa thu lá bay,tóc mai sợi ngắn sợi dài lấy nhau chẳng đặng thương hòai ngàn năm.Và cũng hơn một lần ,anh đã ngộ nhận qua những nhà văn lớn về những cuộc tình muộn, hạn hẹp và không thưc. Nhưng bây giờ thì qua em anh đã hiểu,yêu là hiện hữu,để có mặt, như đánh dấu một khúc quanh của quãng đời, ngày tháng để lại đằng sau, ở một khỏang trống hình như anh đã yêu em từ tiềm thức sâu thẳm,như bất chợt,ngộp thở và chóng mặt, điên cuồng và tê dại, hội nhập và ngây ngất vì vậy chữ nghĩa, ngôn từ để lại không có chỗ đứng ...Viết thêm nữa cũng vậy thôi nhưng ít nhất cũng một lần, một lần trong đời để chẳng bao giờ có ...
Trong anh, anh đã tự hiểu, anh chẳng nuối tiếc gì khi nói yêu em và một mai em sẽ là của anh mãi mãi ..như định mệnh đã an bài .
Yêu em,
ạnh
Houston,ngày 9-12-1994
Em yêu,
Buổi chiều ngồi ngoài vườn thật trống vắng, có một chút gì hoang tịch cô liêu của một ngày nhạt nắng và anh đã ngôi ở đấy qua những năm dài để nhìn bốn mùa qua mau, anh cũng đã ngồi ở đấy hằng tháng hằng ngày để tìm sự đổi thay của chính minh. Để rồi cũng vẫn vậy, vẫn gốc cây ngọn cỏ,anh vẫn là anh, trơ trụi và nhàm chán.Nếu có sự khác biệt nào thì hình như anh mất đi nỗi hoài cảm nhớ nhà trong khói thuốc khói vàng bay lên cây của những năm đầu trên đất khách quê người. Một phần vì đã giã từ khói thuốc lại thiếu tách cà phê đen,mất ngủ đã quá nhiều, thao thức chập chờn trong cái khỏang nửa đêm về sáng để tôi nhìn tôi trên vách.Thực sự thì trong lúc này anh chẳng biết nghĩ gì,viết gì chỉ biết rằng mình đang hòa nhập vào khỏang bao la của trời đất với mảnh vườn thu hẹp và biết mình đang có mặt,có cây có cỏ,có đá có nước, như phiêu liêu ngập lội cho cuộc tình,thả hồn xa xa thêm một chút nữa dù đã muộn màng nhưng vẫn sâu đậm và mãnh liệt như khi anh nhìn thấy lác đác một hai chiếc lá vàng rơi theo ngọn gió ...Cũng có thể khỏang thời gia này anh đã lơ đểnh với cái đẹp mênh mang của thiên nhiên để đắm chìm trong cái đẹp của tạo hóa khóe mắt,nụ cười. Dường như trong anh đang có sự biến đổi của một cơn bão ngầm ..Và cũng một hai chiếc lá vàng ấy như báo hiệu một chớm thu về và mùa thu là mùa của tình yêu lá bay tường bắc lá bay sang và em như hiện thân của một Ngày xưa Hòang thị, em tan trường về , đường mưa nho nhỏ..Và anh đang đi tìm về một ngày nào của năm tháng đã qua, tình yêu học trò chẳng còn nữa để bù đắp vào những mất mát ấy anh đã đi tìm em trong cái nhá nhem của thành phố mới lên đèn để có những phút giây lắng đọng, đợi và mong, nhớ và thương mà chúng mình đã tìm nhau trong góc vắng để được cận kề nhau trong vòng tay, nồng nàn ngất ngây anh như chưa bao giờ biết yêu...
Đã có một lúc nào đó anh như hụt hơi thiếu sức với muôn ngàn chữ "nếu"..tiếc nuối thời gian,anh đếm thời gian qua những chân tóc đã ngã màu và lại một lần nữa,anh lần mò về quá khứ.Ở cáituổi mười chín hai mươi, một nửa thời gian đi học anh đã chôn vùi tuổi trẻ trong quán cafe bên đường băng những điếu thuốc lá, bằng những tách cà phê đen và tự hỏi tôi phải làm gi để không phao phí tuổi trẻ ..nhưng rồi ngày tháng vẫn đong đưa ,anh đếm thời gian bằng những cuộc tình như những mùa thu lá bay,tóc mai sợi ngắn sợi dài lấy nhau chẳng đặng thương hòai ngàn năm.Và cũng hơn một lần ,anh đã ngộ nhận qua những nhà văn lớn về những cuộc tình muộn, hạn hẹp và không thưc. Nhưng bây giờ thì qua em anh đã hiểu,yêu là hiện hữu,để có mặt, như đánh dấu một khúc quanh của quãng đời, ngày tháng để lại đằng sau, ở một khỏang trống hình như anh đã yêu em từ tiềm thức sâu thẳm,như bất chợt,ngộp thở và chóng mặt, điên cuồng và tê dại, hội nhập và ngây ngất vì vậy chữ nghĩa, ngôn từ để lại không có chỗ đứng ...Viết thêm nữa cũng vậy thôi nhưng ít nhất cũng một lần, một lần trong đời để chẳng bao giờ có ...
Trong anh, anh đã tự hiểu, anh chẳng nuối tiếc gì khi nói yêu em và một mai em sẽ là của anh mãi mãi ..như định mệnh đã an bài .
Yêu em,
ạnh
Chủ Nhật, 17 tháng 7, 2011
Vườn nhà
Ngọn gió nào đưa bác tới đây, cũng lâu lắm rồi đấy Bác nhỉ, nhớ năm nào, hình như là cuối xuân sang hạ thì phải. Đường xa vời vợi mệt không Bác, vậy thì cứ tạm ngồi nghỉ một lát, để tôi pha ấm trà, thú thực với Bác, tôi mới biết uống trà gần đây thôi, trà thì phải nói đến cụ Nguyễn Tuân trong “Những chiếc ấm đất”, chỉ thóang một hạt trấu trong ấm trà là các cụ biết ngay. Ấy, tính tôi tôi vẫn lẩn thẩn như vật đấy bác ạ, cứ chuyện này sọ qua chuyện kia, lại thích tẩn mẩn về những ngày tháng cũ, như nhà văn Nguyễn Khải về Hà Nội thăm ông cậu là Hồ Dzếnh…Mà nhắc đến Hồ Dzếnh tôi nằm lòng với hai câu thơ: “Nhớ nhà trong điếu thuốc, khói vàng bay lên cây”, cũng chẳng dấu gì Bác, được Bác cho phép, nói dại chứ cái vườn nhà ngòai kia, chút nữa tôi đưa Bác ra đảo một vòng, thì quanh đi quẩn lại cũng:
Lẩn thẩn ngày qua, lại tháng qua
Nhìn hàng cam quất, con đường cũ
Mấy đứa ngư tiều, đôi bạn thân
Hay là, trong lúc trà dư tửu hậu, ngày rộng tháng dài, tôi với Bác hãy theo hai cậu cháu Hồ Dzếnh thăm ngôi vườn của cụ Vĩnh năm nào:
“…Đừng tưởng hội nhà văn mình là to, cái nghề viết của mình mới có đạo, nghề chơi cây cảnh cũng có cái đạo của nó, không biết nó cũng không ai chết, cũng như không đọc văn cũng không ai chết, nhưng sống sẽ nghèo đi, sẽ buồn hơn và chắc chắn cách sống sẽ tục hơn. Những năm 50, có cụ Vĩnh ở phố Hàng Trống, là bậc sư của nhiều thế hệ trong cái nghề chơi cây cảnh, ai mà có chút ít gì của cụ để lại, một cái chậu, một cái cây, thậm chí chỉ một hòn đá, bây giờ thì vô giá. Chớ có mở miệng hỏi cụ mua cái này cái nọ, muốn mua phải mời cụ bữa rượu rồi nhân trong cái không khí thầy trò, bạn bè trong bữa rượu, ông cụ bốc nhằng lên bằng lòng bán là phải chớp ngay, khi cụ hối thì cũng muộn rồi.
Có lần ông Kim Lân cùng họa sĩ Nguyễn tiến Chung, Phạm văn Đôn, Nguyễn đức Nùng lại thăm cụ Vĩnh, có một ngừơi tiểu đồng, gọi thế thôi, chứ ông ta cũng phải năm chục tuổi, đầu cạo trọc như sư, mặc quần áo nâu đón khách ở nhà dưới rồi mới chạy lên hỏi cụ, hoặc cụ xuống tiếp hoặc cụ cáo bệnh. Một lát sau ông cụ xuống, quần áo lụa nâu, tóc trắng, râu bạc, thần thái phiêu dật như một đạo sĩ.
Trước khi ra vườn xem cây, cụ tự bê một cây cúc mốc, trong Nam gọi là Nguyệt Bạch, đặt lên cái đôn gỗ cao, phía sau là một bức thủy mặc của Tầu. Cái vườn của cụ là thượng uyển của tao nhân mặc khách, với muôn vàn vẻ đẹp của thiên nhiên đã thành mực thước cổ điển, đã thành thơ văn tự bao giờ. Đó là chính thiên nhiên, có sự sống của thiên nhiên nhưng đã được rút nhỏ lại, được gạn lọc lại, để cái đẹp được biểu lộ một cách tòan vẹn. Là hội họa, điêu khắc, thi ca cộng lại. Là những tác phẩm hòan mỹ của tác giả của nó. Là hiện thực và siêu thực. Là cuộc sống bị câu thúc trong hiện tại và những mơ mộng của những con người muôn thuở. Có những ngôi chùa trong hẻm núi, nhưng tường và mái ngói đã bị nứt ra, chùm rễ si buông xỏa xuống. Là một con thuyền ẩn dưới một vòm hang có nhủ đá lóng lánh. Là một ông như ngồi quay lưng lại trên một hòn đá nhỏ.
Nhìn cây tùng già như treo vào vách núi lại nhớ câu thơ của Lý Bạch: “Khô tùng đảo quải ỷ tuyệt bích”. Hoặc một cây tùng mọc chon von trên ngọn núi như trong thơ của Đỗ Phủ: “Minh minh cô cao, đa liệt phong”. Cảnh đã nhập vào thơ, nhập vào hồn, gợi lên cái bâng khuâng khôn tả của người ngắm cảnh, phía xa có một mảnh tường cũ, lở lói một cách cố ý, phủ lên một lượt lá vẩy ốc xanh rì. Một cây mai trắng, trời càng rét mai càng nhiều, trắng như tuyết, không có một cái lá nào, không còn một chút tục nào, ngạo nghễ với gió bấc, nó là Hàn mai. Lại có những chậu cúc Tầu, cúc ống, cánh to cánh ruỗi, đã chơi cúc là coi như bỏ công danh ra ngòai, mải mê suốt năm tháng với nó. Bất chợt thỏang đến, như có như không, cái mùi thơm sang trọng của mấy chậu Địa lan, một mùi thơm mà cụ Khổng Tử đã đặt tên là Vương Giả Chi Hương.
Rải rác đây đó là mấy hòn đá vân xanh, đá là trừu tượng nhất, chả có ý nghĩa gì, chỉ thấy đẹp thôi. Chả ai hiểu gì nhưng đều nhận rằng rất đẹp, cái đẹp còn có ý nghĩa là khó có thể cắt nghĩa được. Không cắt nghĩa được là siêu rồi, là siêu thực chứ còn gì ! Các cụ đã chơi siêu thực tự cái thuở nào, thuở nào chứ không phải đến tự bây giờ.
Nhìn vào vườn của cụ Vĩnh, rồi lại nhìn những con hạc, con lân uốn xén, những chậu cúc, chậu quất đời thường mới thấy là tục. Đó là vườn cảnh của trọc phú, của quan lại, khoe danh khoe của chứ đâu có ý vị thâm trầm gì. Lại còn cá cảnh nữa, người xưa chơi lưng, chơi vây cá, bây giờ họ nhốt cá trong tủ kính, chơi bụng cá, chỉ thấy những cái bụng chình ình, trắng lợt, lượn qua lượn lại với những tia cứt bắn thành vệt.
Đã chơi cây cảnh là cốt dinh dưỡng tính tình, phải tự mình chăm sóc tất cả, không nên nhờ, cũng không nên thuê. Mà cũng khó nhọc, vất vả lắm như thế mới vui, như trồng Địa lan chẳng hạn, nó là lọai hoa vương giả, thích mọc ở kẽ đá, trên mùn lá cây. Đất trồng nó phải lấy lớp bùn thứ để đầu hè, hai năm sau, nó khô trắng mới chặt nhỏ bằng quả vải xếp trong chậu sành, nó ưa chậu sành sốp, vì rễ lan mới thở được, còn chậu men mầu lòe lọet là bỏ, là dẹp.
Chơi lan phải chơi theo mùa, mùa xuân là Hòang lan, Thanh lan, Mặc lan, thu thì Trần mộng, Đông lan, hạ có Bạch lan, Ngọc vân Hội, Ngân biên, đông thì lan ngủ. Lại có lan Tứ thời, thơm lừng lẫy, lá dài hẹp, cứng đơ, trồng lại đẻ khỏe. Nhưng các cụ khinh, liệt vào lọai hoa hèn cỏ nội. Vì sao ? Vì thời nào nó cũng sống được, cũng thơm được, cái thứ hoa nịnh đời, nịnh người đến thế thì trọng làm quái gì.
Ông Nguyễn Tuân không chơi được lan, vì tính vốn lười, chỉ xin thôi, xin cây nào chết cây ấy, ông ta quen được vợ con hầu, bạn bè hầu, nhưng lan nó có chịu hầu ai bao giờ ? Nhưng cũng có những ông chơi rất kỹ, rất công phu mà như không chơi gì cả. Cái chơi và nếp sống như nhập làm một, như trong võ thuật, kiếm với người là một, không còn chiêu số nữa, tức là đạt tới cái đạo của sự chơi rồi.
Đó là trường hợp của ông Trần huyền Trân, nhà ông ở sau nhà thờ Nam Đồng, có một miếng đất nho nhỏ, có vườn và có ao. Ông trồng một bụi trúc trước nhà, kê mấy hòn đá rửa chân, rửa rau ở bờ ao, dưới giàn thiên lý đặt mấy chậu lan, ông Trần chỉ chơi có lan Hạc Đính vì là tên vợ ông, thêm mấy chậu cây thế và một bể cá. Bước vào nhà ông là thấy ngay cái nghèo nhưng thanh cao, phảng phất có mùi thơm của lan, lại nghe tiếng chim gáy gù xa xôi, vắng lặng ở một góc vườn. Trong cái thế giới nho nhỏ, riêng biệt ấy, người ta và trời đất thóang chốc như là một, bỗng nhiên nhận ra cái nực cười của bao nhiêu túi bụi một đời người, trước cái thong dong, thơ thới của cây cảnh và người, nói thì vô chừng. Như ông cậu Hồ Dzếnh của tôi, đã đặt chân đến đất kinh kỳ, từ hơn chục năm về trước, ở phố Hòa Mã, để cầu danh. Nay cũng lui về thành Nam, sống ở ven đô chứ không ở trong thành phố, vui thú điền viên cùng một mảnh vườn nho nhỏ…”.
***
Ấy Bác ạ, vườn nhà tôi không được cái thanh cảnh, trầm mặc và tiên cốt, như khu vườn cụ Vĩnh, nhưng được cái rộng đến một sào rưỡi ta đấy, một sào tức ba trăm sáu mươi mét vuông, hay mười công thợ ngòai Bắc mình chứ ít ỏi gì. Tôi biết Bác đang tặc lưỡi, nhăn mặt với ngôn từ, sao không là bộ, là mét, mà lại rắc rối với sào, với mẫu, ở cái thời buổi gạo châu củi quế này…Vâng, tôi hiểu và tôi không nhà quê, nhà mùa đâu Bác ạ, cũng đi Tây đ
đi Tầu cả đấy chứ, nhưng dài dòng một chút thì thời ông nội tôi, cả tộc hai, ba đời bám vào ba sào ruộng, cũng qua ông cụ đẻ tôi thì ông nội tôi môi mỏng, suốt ngày rượu với thơ phú với mảnh vườn nho nhỏ, công danh phù thế không qua chùm cau, khóm trúc. Đến tam đại, tứ đại là thời thằng cháu đích tôn là tôi, ông cụ đẻ tôi vẫn thường nhiếc, mới nứt mắt đã cây với cỏ, rượu thì như hũ chìm, từ đó, tôi gần gũi ông nội tôi hơn qua hình bóng sào ruộng, mảnh vườn là vậy.
Tôi biết đầu óc Bác đang lùng bùng, nào mời Bác quá bộ ra vườn sau cho thóang đãng một chút, thực tình tôi không biết bắt đầu từ đâu và ngừng lại ở chỗ nào. Này nhé, quẹo trái, đi thẳng hay rẽ phải đều phải bước qua cái cầu…Bác lắc đầu, tôi cũng tự nhận là ôm đồm, thái quá, có một lần, tần mần đếm tới hơn chín cái đủ lọai, cầu gỗ, cầu đá, cầu “bê-tông”. Phẳng lặng quá thì cũng nhàm chán, tôi muốn bước cao bước thấp như lên non tìm động hoa vàng đấy thôi. Vả lại, tôi như chìm đắm trong mấy câu ca dao dân gian:
Giã ơn cái cối, cái chày
Nửa đêm gà gáy, có mày có tao
Giã ơn cái cọc, cầu ao
Nửa đêm gà gáy, có tao có mày
Hình như tôi Bác đang hòa nhập: “Ta đi thơ thẩn bên vườn mộng, em nấp sau hoa khúc khích cười”, thôi Bác ơi, già rồi còn thơ thẩn, mộng với mơ gì nữa, với tôi thì bây giờ chỉ còn bạn bè xa cũng như gần, như cái cọc, cầu ao. Mà Bác vừa hỏi gì vậy, “Cái cọc ?”, không phải cái cọc đâu Bác ơi, đó là mấy cái đế rải rác quanh vườn, người phương Tây thì họ đặt tượng, riêng tôi thì để mấy chậu Bonsai lên cho lạ mắt đấy mà.
Bác nói gì vậy, tôi nghe không rõ, già cả rồi, dạo này tai nó hơi nghễng ngãng, à Bác hỏi vườn tôi là vườn Nhật hả ? Thì cũng phiên phiến, hình thức như làm dáng vậy thôi, tôi nói thực đấy. Nói cho ngay thì tôi cũng chẳng bon chen mầu mè gì lắm đâu, vườn Tầu thì nặng nề, ở quê ta là vườn cây ăn trái, còn Nhật thì nó nhẹ nhàng hơn, cùng lãng đãng một chút nào bàng bạc của Thiền quán. Qua mảnh vườn này, tôi lõm bõm góp nhặt được chút nào hay chút nấy:
“…Bước trên lối đi nhỏ (roji) như lang thang của tâm thức, như góp nhặt sỏi đá trên nẻo đường trần, lác đác với những chiếc lá vàng và bỏ lại đằng sau cơn mê trần. Cũng vì ảnh hưởng của Thiền học, nên vườn Nhật được hài hòa giữa giao động và tĩnh lặng: Giao động được bố cục trong một khu dầy đặc với tùng bách, thác nước, cùng âm động của vô thức, tiếng róc rách rào rạt của máng nước tre chẩy xuống vại, xuống hồ, để bụi trần tan lõang, cùng tiếng thở dài của gió thỏang qua cỏ cây như hệ lụy mang mang bay bổng.
Và tĩnh lặng là khỏang đất trống trải, với rêu phong mọc dầy trên mảng đất mịn, rải rác đâu đây là năm, ba hòn đá thô, thóang trông thì chơi vơi lạc lõng nhưng thực sự được sắp sếp theo khuôn mẫu, có tan có hợp, tất cả chỉ là giấc kê vàng cùng tiếng chuông tỉnh thức, biểu tượng trầm mặc là ngôi chùa bằng đá (ishidoro) thầm lặng dưới tàng cây, ẩn hiện giác ngộ là cơn mộng du giữa ban ngày…”
Bác lắc đầu nhăn mặt, tôi cũng đang u mê, vườn tược quái qủy gì mà khó khăn qúa vậy. Trăm sự tại tôi, lụy vào chữ nghĩa để rồi lằng nhằng, nhồi nhét Bác quá sức. Tôi cũng muốn lơ thơ tơ liễu buông mành cùng khỏang vườn nhỏ bé xinh xinh trong một ngày nắng hanh: “Trèo lên cây bưởi hái hoa, bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân”. Làng nước người mình qua đây, mang cả vườn rau, vườn húng, trải rộng khắp hang cùng ngõ hẻm…Bác nói gì “ồm ộp”, ấy đấy, cóc nhái ễnh ương nó rủ rê kêu gọi nhau Bác ạ, thế nào mai trời cũng mưa gầm sấm chớp. Trời đất nghĩ cũng lạ, cứ đào hồ vét ao, là y như rằng, thế nào chuồn chuồn có ngày ở đâu kéo nhau bay về, rồi chiều thế nào cũng ào một cái là mưa, mưa đấy rồi cũng tạnh ngay đấy…
Thôi thì cứ thủng thẳng, mình cứ thong dong vừa đi vừa nói chuyện cỏ cây, nào mời Bác quẹo trái, trước đây là vườn Thiền, chỉ trải sỏi trắng gợn sóng và cô đọng lẻ loi là một hòn đá. Ở đấy, một ngày như mọi ngày, tôi cũng học đòi đi tìm bản ngã của chính mình, nhức đầu chóng mặt, tìm đâu không thấy, chỉ thấy một mầu trắng phẳng lặng buồn nẫu người, cùng tảng đá cục mịch đến vô duyên. Để “ngộ”, để “đạt” bằng cách tôi phá bỏ nó đi, hì hục tướt người đào cái hồ, không có gạch Bát Tràng cho nàng rửa chân, thì tôi loay hoay bắc cái cầu gỗ chênh vênh, tảng đá thì tôi lui cui đục hang, khóet hốc trồng cây lưa thưa như một hoang đảo đơn độc. Còn bức tượng Thiền sư thì tôi vớt vát lại, ông cũng lưu lạc như tôi, nay ngồi không chỉ tay qua bên kia bến nước, như muốn gửi gấm về một khỏanh khắc nào đó, thật xa, xa lắm, nằm tận sâu trong ký ức tự thuở nào:
Ai ra bến nước trông về Bắc
Chỉ thấy mây trôi, chẳng thấy làng
Làng nước của tôi gói ghém và gửi gấm ở cái hóc hẻm này, bác thả bộ thêm vài bước nữa để tôi chỉ cho bác, cái ngõ trúc và con đường nho nhỏ sâu hun hút kia…Đường quê đất Bắc của riêng tôi đấy bác ạ, chưa hết, những cành trúc dầy đặc lá, nghiêng ngả cong dài về một phía, như có một chút âm u nhưng thanh tịnh và vắng lặng, âm hưởng của rặng chuối sau hè. Bác hãy chịu khó lom khom chui dưới vòm trúc ấy và chậm rãi dẵm từng bước…ngõ hẹp ao sâu, chỉ thiếu chút mưa phùn, đường mưa ướt đất với gió heo may, lá cành xào xạc và tận đằng cuối ngõ, xa vắng là cái cầu gỗ chơ vơ. Mà Bác đang lẩn thẩn gì vậy:
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo
Từng mây lơ lửng trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co, khách vắng teo
Ừ thì cái tuổi này, Bác cũng như tôi, chẳng còn gì để bám víu ngòai quê nhà, cây đa bến cũ, thôi thì còn đó có đó, cứ để đấy đã, mình trở lại cái cửa hồi nãy và ra vườn trước, Bác nhìn cái hồ hơi lạ mắt phải không Bác, lại có cả chiếc cầu gỗ ọp ẹp. Đúng ra mò mẫm với cái thác nước này, tôi cũng có hơi mậy mọ một chút, là dung hòa hòn non bộ của miền bắc Trung Hoa, chỉ thuần đá không thôi và nghệ thuật sếp đá của Nhật, và gán ghép cái tên “Hòn Non Nước”. Ngang mặt hồ, đặt một phiến đá mỏng như hòn cù lao, ở trên ấy tôi sắp ba hòn đá to nhỏ khác nhau, ngất ngưởng theo cái thế thiên, địa, nhân, hòn này gần, cục kia xa, có cao có thấp…
Viết thì viết vậy, nhưng khổ một nỗi, làm xong ngắm đi ngắm lại thì cũng hơi khập khiễng, chẳng khác gì “Cái Giếng” của cụ bà Hồ xuân Hương năm xửa năm xưa:
Cầu trắng phau phau đôi ván ghép
Nước trong leo lẻo một dòng thông
Cỏ gà lún phún leo quanh mép
Cá giếc le te lách giữa dòng
Bác hỏi tôi hai chữ Nho trên cái chậu kia hả, thực tình tôi cũng lờ mờ vì nó là chữ Nhật, tôi đóan là tsukubai, là hòn đá được khóet sâu như cái vại để chứa nước, dùng để rửa tay trước khi vào trà thất. Nước chẩy qua đốt tre gộc khẳng khiu (kakeki), lửng lơ bắc ngang hòn đá với dòng nước rơi lõm bõm không ngừng nghỉ. Nhưng điểm tôi vừa ý sau này, là hòn đá dựng đứng trơ trọi lừng lững ở hồ trên, gần cả mười năm tôi cứ lấn cấn với nó, rồi một giây phút yên sĩ phi lý thuần ập tới, tôi khoan một cái lỗ làm cái thác nước, nước róc rách từ trên cao len lỏi chẩy xuống qua tàn cây. Chưa hết, sau này tôi lại đục lại đẽo sâu vào đá theo dòng thác như…nước chẩy đá mòn, rồi ngồi dài mòn mỏi đợi một ngày đá sẽ rêu xanh.
Tôi biết Bác hơi…chóang váng, hay là mình tạm ngồi ở cái ghế này một lát, tôi vẫn thường thích ngồi ở đây…Cứ hoang tưởng, phiêu bạt về một quán nước bên đường, như Quang Dũng ngày nào: “Tiền nước trả rồi nắng gắt, đường xa chóang váng núi và mây” và phóng mắt nhìn qua dẫy đá, hồ nước, cái cầu và tận đằng xa là một khu vườn um tùm, hoang liêu như một cõi đi về, thôi thì cứ để tâm tư lãng đãng bồng bềnh về một chốn hư không cùng những người xưa năm cũ, hồn ở đâu bây giờ…Bác nhíu mày phân vân, thì cứ để đấy, tôi sẽ nhỏ to với Bác sau, bây giờ hãy đảo xéo qua bên tay phải, đó là cái cầu Nhật bắc qua dòng suối khô, rải rác trải rộng là những viên sỏi lớn nhỏ và tôi đặt tên là Suối Mơ, hòai vọng về một Văn Cao với em đến chơi một lần để rồi tất cả chỉ là một thóang mờ nhân ảnh. Rồi lại vướng víu, hòa lẫn bởi hai câu thơ Đường: “Kỵ lư quá tiểu kiều, độc thán mai hoa sấu”, vì vậy, năm ngóai, tôi lại lụi cụi trồng cây mai Nhật tên Toyo Nishiky là là bên bờ suối:
Giang mai, mai ở bờ sông
Trong thơ Đỗ Phủ, ngàn năm vẫn buồn
Tàn rồi một độ hoa xuân
Thiền sư ngửa mặt tần ngần với mai
Bác đang mỉm cười vu vơ, mà ai chẳng một lần hòai cảm với mộng và mơ…và đằng sau là mảnh vườn trúc đen cũng của Nhật, bây giờ thì nó còn lưa thưa còm cõi, hai, ba năm nữa, như một thóang mây bay, rồi Bác sẽ thấy, thân trúc bằng ngón tay cái, đen tuyền, cao vút, ngả nghiêng lơi lả theo gió chiều…Mà Bác cứ lẩn thẩn nghĩ mà xem, nếu làng quê đất Bắc mình mà thiếu rặng tre đầu làng cuối ngõ, thiếu khóm trúc sau góc đình, bên bờ ao thì cũng một phần nào mất mát đi những nét bàng bạc trong tâm khảm, để chẳng có Võ Phiến với “Quê Ngọai”, cùng Bàng bá Lân với “Hỡi cô tát nước bên đàng, sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi”, để đi vào văn học sử sau này, phải không Bác. Nhớ ngày nào, như mới đâu đây, lần mò về vườn Cò bên kia Thủ Đức, lười biếng nằm thõng người trên cái võng trong bụi tre gộc dầy đặc, giữa buổi trưa hè, gió hiu hiu thổi, đắm chìm trong tiếng kẽo kẹt của thân cây tre cọ vào nhau, lắng đọng qua tiếng lá tre xào xạc xanh um…Êm ả, thanh tịnh, khác hẳn tiếng võng đưa vắng lặng và âm ỷ của mẹ ru con bên trái nhà, hòa lẫn tiếng chó sủa vu vơ tận cuối thôn, nhưng rồi như nhạt nhòa hòa lẫn, đẩy đưa về âm vọng xa vắng, mộc mạc và bình dị của hương đồng cỏ nội và chỉ thiếu cánh diều căng gío của cái tuổi ấu thời, đánh khăng đánh vụ, về một vùng quê có vụ chiêm, vụ mùa, tiếng chày giã gạo rộn rã dưới đêm trăng vằng vặc, chênh chếch sau ngọn cau. Tất cả bây giờ chỉ là hòai niệm xa vời vợi, nhưng gắn bó không rời.
Hình như tôi hơi lẩn thẩn rồi thì phải, à mà bác ngắm cái gì vậy, hóa ra hòn non bộ, Bác và tôi lúc nào cũng vậy, thích quay về với các cụ ta xưa: “Trói chân kỳ ký tra vào rọ, rút ruột tang bồng trả nợ cơm”. Bóng ngả đường chiều, cả một hòai bão tang bồng thu nhỏ vào trong hòn giả sơn, như ốc mượn hồn…Và cũng thưa với Bác, hòn non bộ này ảnh hưởng của miền nam Trung Hoa đấy Bác ạ, có nước có non, sông núi cùng ngư tiều canh độc. Chậu và đá cũng nhiêu khê mang từ Hà Tiên qua, của đi tìm người thật đấy, nhưng nặng khiếp, nặng kinh người, được cái sườn núi chênh vênh có nhiều hóc hẻm nên tôi cứ dấm dúi ông tiều, ông canh vào hốc này, mỏm kia để có chỗ che mưa dầm nắng “Lom khom dưới núi tiều vài chú, lác đác bên sông rợ mấy nhà”. Ngang ngang đỉnh núi phất phơ có mấy ông tiên đánh cờ với bình rượu túi thơ cùng ngàn năm mây bay “Bước xuống đèo Ngang bóng sế tà, cỏ cây chen đá, đá chen hoa”, lại phải tẩn mẩn bắc cái cầu cho mấy tiên ông xuống núi ngắm trời ngắm nước, đâu đây “Gác mái ngư ông về viễn phố, gõ sừng mục tử tại cô thôn” và xa xa, ẩn hiện qua lùm cây bên dòng nước là “Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo, sóng biếc theo làn hơi gợn tí”:
Mặt nước mênh mông nổi ba hòn
Tiếng già nhưng núi vẫn còn non
Mảng cây thưa thớt đầu như trọc
Tảng đá cheo leo ngấn chửa mòn
Một lá về đâu xa thăm thẳm
Nghìn làng trông xuống bé con con
Bây giờ Bác lại ngậm ngùi, trong Bác đang “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc, thương nhà mỏi miệng cái gia gia”, thôi Bác ạ, sông có khúc người có lúc, vận nước non nhà đã vậy rồi, thở than u hòai cũng vậy thôi, tất cả chỉ là giấc mộng Nam Kha, có tan có tụ, cùng sắc sắc không không:
Bản lai vô xứ sở
Xứ sở thị chân tông
Chân tông như thị huyễn
Huyễn hữu tức không không
Để tôi đưa Bác tới khu vườn hoang liêu như một ốc đảo mà lúc nẫy tôi đã chỉ cho Bác, Bác thấy trong dẫy cây phong đỏ dầy đặc, có cái đầu tượng Phật Chàm bằng đá cẩm thạch trắng, to cũng gần bằng cái nồi ba mươi. Đấy Bác thấy không, cùng vận nước nổi trôi, dân tộc Chàm mất nước rồi cũng có mặt ở đây, để dãi dầu sương gió “Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, nước còn cau mặt với tang thương”, để rồi Bác nghĩ mà xem, Tháp Chàm cùng Thăng Long hòai cổ, qua những lớp sóng phế hưng cũng nhạt nhòa: “Lối xe ngựa cũ hồn thua thảo, nền cũ lâu đài bóng tịch dương” đang cìm dần dần trong quên lãng của vang bóng một thời, nhất là trong lúc này, đất khách quê người trong những ngày luân lạc, gặp nhau cũng không ngòai vấn vương tri giao quái ngã sầu đa mộng...
***
Bác cũng hơi khật khừ rồi đấy, dạo này hay trái nắng trở trời, rước Bác quá bộ về “Trà thất” dùng tách trà đầu ngày. Tôi cũng hơi chém to kho mặn, gọi quá là “Trà thất” cho có văn vẻ, thực ra, như Bác đã thấy, chỉ là dàn cây gỗ kèo này cột kia, gác ngang vắt dọc, chỉ có khác là mớ cây leo rậm rạp um tùm đầy bóng mát, lâu ngày cây rủ xuống che ngang tầm mắt, âm u, cô tịch như cái thảo am. Nào mời Bác dùng trà, tôi không múa bút như một trà nhân nào đó: “Từ tốn ngồi xuống trong tĩnh lặng của chân không, qua làn khói trà nhẹ tênh, tan lõang và cùng đi tìm những giây phút lắng đọng của tâm thức”. Riêng tôi chỉ dung dị, đơn thuần, mỗi buổi sáng dưới bóng mát mầu xanh của dàn cây leo, tôi lại u hòai về một khúc nhạc có cái tên “Bóng Mát”, âm hưởng như vang vọng: “Còn đâu nữa, tiếng hát ca dao ru tôi vào đời, dưới bóng tre xanh đong đưa nhịp võng, đã cho tôi bóng mát cuộc đời, còn đâu nữa, gió ngát hoa cau trong đêm dần tối, ngõ trúc trăng lên rong chơi hội làng, tiếng sáo lang thang theo chim về núi…mãi đi hoang, mãi lang thang…đã quên đi bóng mát cuộc đời”.
Và cũng mỗi buổi chiều cuối tuần, tôi thường ngồi đấy, đắm chìm trong mông lung và xa vắng, đưa cay cùng…khói vàng bay lên cây.
Nào mình quẹo trái thăm thú mấy kệ cây của tôi, Bác hỏi về Bonsai ấy hả, ngắn và gọn thì từ đời Hán, đời Đường, người Trung Hoa đã tận thu tứ hải sơn hà vào ao, hồ, hòn non bộ... Sau này đến Bosai, cây cối, rừng rậm cũng được thu gọn trong chậu nhỏ như tục bó chân bó cẳng, và một thời có tên là “Cây thế” hay “cây Nhật lùn”, mặc dù vườn nhà cũng có khá bộn, nhưng tôi chỉ chắt chiu với hai lọai, cây tùng bách và cây si. Với cây tùng thì thằng bạn tôi có hai câu chữ Nho, đủ nói lên tất cả: “Tuế bất hàn vô dĩ tri tùng bách, sự bất nan vô dĩ tri quân tử”. Riêng vườn nhà có một cây si cổ thụ, cũng đâu đó gần trăm năm, mấp mé sấp sỉ một đời người “nhân sinh bách tuế vi kỳ”, gốc cằn cỗi sần sùi mốc meo, rễ buông chằng chịt chẩy dài từ trên xuống dưới, như cây đa cây đề cạnh miếu đền, vậy mà cũng lạ lắm Bác ạ, nó như ngậm nhấm vào xương vào tủy. Mỗi lần ngắm cây si già nua ấy, tôi lại lãng đãng, mường tượng về một khung trời nào đó, cùng những chiếc bình vôi lăn lóc bên miếu thổ địa, mái âm dương rêu phong ẩm ướt, mỗi mớ rễ cây, mỗi chiếc bình vôi, ẩn hiện cả một quãng đời, qua bao thế hệ, chôn chặt gắn bó với đất đai làng nước, năm này qua năm khác cùng những ngày tháng đong đưa.
Từ chậu Bonsai đến chậu kiểng lớn, thực tình tôi muốn thầm khoe với Bác, đều từ quê mình mang sang. Nếu Bác hỏi tôi gửi gấm gì ở vườn nhà, chẳng dấu gì Bác cũng thấy, không ngòai gói ghém qua mấy cái chậu vô tri vô giác, tôi nói thực đấy…Mỗi lần lang thang trong vườn nhà với gió và mây, trong những ngày nhạt nắng, bâng khuâng nhìn cái chậu đồ gốm mầu gạch cua đồng, con rồn uốn khúc đầy hồn tính, cái chậu men sành mầu ngọc bích, cùng những đường nét hoa văn, thanh và dung dị, cái chậu mầu huyết dụ, như cái đỉnh nhang, mộc mạc và đơn sơ…mang mang qua những địa danh cùng những niên đại một thời ngày nào. Bác tặc lưỡi, hình tượng chỉ là cục đất sét, sau đó là nung với nướng, thành cái chậu cái chum, mệt Bác quá đi…Này Bác ạ, nghệ thuật đồ gốm chân truyền qua tay nghề của các cụ xưa, Bát Tràng, Thanh Hóa, đường nét không gò bó của đời Tống. Lái Thiêu, Hà Tiên cũng chẳng nặng nề như đời Minh. Nét vẽ thóang đơn sơ một vài cọng lau, phóng khóang đan thanh dăm ba ngọn cỏ, là biểu tượng thăng trầm đổi thay cả một dòng lịch sử, từ triều đại này qua triều đại khác, nhưng vẫn giữ hoa văn cổ truyền chan chứa đầy tình tự dân tộc, bèo dạt nổi
trôi tắp về một mảnh đất nào đó của miền Nam mưa gió hai mùa, nay ngược dòng lịch sử ấp ủ bên tả ngạn sông Hồng, nước chẩy về cội cùng những đường nét gần gũi và thân quen.
Giời đất ạ, chết chửa cũng gần trưa rồi, Bác nói gì: “Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà”, gà với vịt, tôi biết Bác muốn nhắc khéo gì nữa đây, thì kỳ trước, một chuyến đò nên duyên, đã nếm qua chả cá rồi. Hôm nay thì có tiết canh vịt với bánh đa vừng, nếu răng cỏ Bác có móm mém thì tôi bảo bu cháu, xào xáo nồi ốc giả ba ba mời Bác sơi, bu cháu múa bát múa đũa, lóang một cái là xong ngay ấy mà. Có chuối xanh và một, hai lát đậu rán, ít sườn non, rau tía tô, tôi dân đồng chua nước mặn, phải có tí ti mắm tôm mới đậm đà. Tôi dạo này bụng dạ nó hơi chộn rộn, phải làm cút rượu mới xong, riêng Bác thì đừng khách sáo, cùng người nhà cả, Bác cứ dùng trà, nhất Bác đấy, mà Bác tặc lưỡi bảo tôi sướng. Sướng ở cái khổ nào ? Không dấu gì Bác, chẳng qua cũng trong cái vòng lẩn quẩn:
Đọan tống nhất sinh duy hữu tửu
Trầm tư bách kế bất như nhàn
Thạch trúc gia trang
Ngộ Không Phí Ngọc Hùng
Lẩn thẩn ngày qua, lại tháng qua
Nhìn hàng cam quất, con đường cũ
Mấy đứa ngư tiều, đôi bạn thân
Hay là, trong lúc trà dư tửu hậu, ngày rộng tháng dài, tôi với Bác hãy theo hai cậu cháu Hồ Dzếnh thăm ngôi vườn của cụ Vĩnh năm nào:
“…Đừng tưởng hội nhà văn mình là to, cái nghề viết của mình mới có đạo, nghề chơi cây cảnh cũng có cái đạo của nó, không biết nó cũng không ai chết, cũng như không đọc văn cũng không ai chết, nhưng sống sẽ nghèo đi, sẽ buồn hơn và chắc chắn cách sống sẽ tục hơn. Những năm 50, có cụ Vĩnh ở phố Hàng Trống, là bậc sư của nhiều thế hệ trong cái nghề chơi cây cảnh, ai mà có chút ít gì của cụ để lại, một cái chậu, một cái cây, thậm chí chỉ một hòn đá, bây giờ thì vô giá. Chớ có mở miệng hỏi cụ mua cái này cái nọ, muốn mua phải mời cụ bữa rượu rồi nhân trong cái không khí thầy trò, bạn bè trong bữa rượu, ông cụ bốc nhằng lên bằng lòng bán là phải chớp ngay, khi cụ hối thì cũng muộn rồi.
Có lần ông Kim Lân cùng họa sĩ Nguyễn tiến Chung, Phạm văn Đôn, Nguyễn đức Nùng lại thăm cụ Vĩnh, có một ngừơi tiểu đồng, gọi thế thôi, chứ ông ta cũng phải năm chục tuổi, đầu cạo trọc như sư, mặc quần áo nâu đón khách ở nhà dưới rồi mới chạy lên hỏi cụ, hoặc cụ xuống tiếp hoặc cụ cáo bệnh. Một lát sau ông cụ xuống, quần áo lụa nâu, tóc trắng, râu bạc, thần thái phiêu dật như một đạo sĩ.
Trước khi ra vườn xem cây, cụ tự bê một cây cúc mốc, trong Nam gọi là Nguyệt Bạch, đặt lên cái đôn gỗ cao, phía sau là một bức thủy mặc của Tầu. Cái vườn của cụ là thượng uyển của tao nhân mặc khách, với muôn vàn vẻ đẹp của thiên nhiên đã thành mực thước cổ điển, đã thành thơ văn tự bao giờ. Đó là chính thiên nhiên, có sự sống của thiên nhiên nhưng đã được rút nhỏ lại, được gạn lọc lại, để cái đẹp được biểu lộ một cách tòan vẹn. Là hội họa, điêu khắc, thi ca cộng lại. Là những tác phẩm hòan mỹ của tác giả của nó. Là hiện thực và siêu thực. Là cuộc sống bị câu thúc trong hiện tại và những mơ mộng của những con người muôn thuở. Có những ngôi chùa trong hẻm núi, nhưng tường và mái ngói đã bị nứt ra, chùm rễ si buông xỏa xuống. Là một con thuyền ẩn dưới một vòm hang có nhủ đá lóng lánh. Là một ông như ngồi quay lưng lại trên một hòn đá nhỏ.
Nhìn cây tùng già như treo vào vách núi lại nhớ câu thơ của Lý Bạch: “Khô tùng đảo quải ỷ tuyệt bích”. Hoặc một cây tùng mọc chon von trên ngọn núi như trong thơ của Đỗ Phủ: “Minh minh cô cao, đa liệt phong”. Cảnh đã nhập vào thơ, nhập vào hồn, gợi lên cái bâng khuâng khôn tả của người ngắm cảnh, phía xa có một mảnh tường cũ, lở lói một cách cố ý, phủ lên một lượt lá vẩy ốc xanh rì. Một cây mai trắng, trời càng rét mai càng nhiều, trắng như tuyết, không có một cái lá nào, không còn một chút tục nào, ngạo nghễ với gió bấc, nó là Hàn mai. Lại có những chậu cúc Tầu, cúc ống, cánh to cánh ruỗi, đã chơi cúc là coi như bỏ công danh ra ngòai, mải mê suốt năm tháng với nó. Bất chợt thỏang đến, như có như không, cái mùi thơm sang trọng của mấy chậu Địa lan, một mùi thơm mà cụ Khổng Tử đã đặt tên là Vương Giả Chi Hương.
Rải rác đây đó là mấy hòn đá vân xanh, đá là trừu tượng nhất, chả có ý nghĩa gì, chỉ thấy đẹp thôi. Chả ai hiểu gì nhưng đều nhận rằng rất đẹp, cái đẹp còn có ý nghĩa là khó có thể cắt nghĩa được. Không cắt nghĩa được là siêu rồi, là siêu thực chứ còn gì ! Các cụ đã chơi siêu thực tự cái thuở nào, thuở nào chứ không phải đến tự bây giờ.
Nhìn vào vườn của cụ Vĩnh, rồi lại nhìn những con hạc, con lân uốn xén, những chậu cúc, chậu quất đời thường mới thấy là tục. Đó là vườn cảnh của trọc phú, của quan lại, khoe danh khoe của chứ đâu có ý vị thâm trầm gì. Lại còn cá cảnh nữa, người xưa chơi lưng, chơi vây cá, bây giờ họ nhốt cá trong tủ kính, chơi bụng cá, chỉ thấy những cái bụng chình ình, trắng lợt, lượn qua lượn lại với những tia cứt bắn thành vệt.
Đã chơi cây cảnh là cốt dinh dưỡng tính tình, phải tự mình chăm sóc tất cả, không nên nhờ, cũng không nên thuê. Mà cũng khó nhọc, vất vả lắm như thế mới vui, như trồng Địa lan chẳng hạn, nó là lọai hoa vương giả, thích mọc ở kẽ đá, trên mùn lá cây. Đất trồng nó phải lấy lớp bùn thứ để đầu hè, hai năm sau, nó khô trắng mới chặt nhỏ bằng quả vải xếp trong chậu sành, nó ưa chậu sành sốp, vì rễ lan mới thở được, còn chậu men mầu lòe lọet là bỏ, là dẹp.
Chơi lan phải chơi theo mùa, mùa xuân là Hòang lan, Thanh lan, Mặc lan, thu thì Trần mộng, Đông lan, hạ có Bạch lan, Ngọc vân Hội, Ngân biên, đông thì lan ngủ. Lại có lan Tứ thời, thơm lừng lẫy, lá dài hẹp, cứng đơ, trồng lại đẻ khỏe. Nhưng các cụ khinh, liệt vào lọai hoa hèn cỏ nội. Vì sao ? Vì thời nào nó cũng sống được, cũng thơm được, cái thứ hoa nịnh đời, nịnh người đến thế thì trọng làm quái gì.
Ông Nguyễn Tuân không chơi được lan, vì tính vốn lười, chỉ xin thôi, xin cây nào chết cây ấy, ông ta quen được vợ con hầu, bạn bè hầu, nhưng lan nó có chịu hầu ai bao giờ ? Nhưng cũng có những ông chơi rất kỹ, rất công phu mà như không chơi gì cả. Cái chơi và nếp sống như nhập làm một, như trong võ thuật, kiếm với người là một, không còn chiêu số nữa, tức là đạt tới cái đạo của sự chơi rồi.
Đó là trường hợp của ông Trần huyền Trân, nhà ông ở sau nhà thờ Nam Đồng, có một miếng đất nho nhỏ, có vườn và có ao. Ông trồng một bụi trúc trước nhà, kê mấy hòn đá rửa chân, rửa rau ở bờ ao, dưới giàn thiên lý đặt mấy chậu lan, ông Trần chỉ chơi có lan Hạc Đính vì là tên vợ ông, thêm mấy chậu cây thế và một bể cá. Bước vào nhà ông là thấy ngay cái nghèo nhưng thanh cao, phảng phất có mùi thơm của lan, lại nghe tiếng chim gáy gù xa xôi, vắng lặng ở một góc vườn. Trong cái thế giới nho nhỏ, riêng biệt ấy, người ta và trời đất thóang chốc như là một, bỗng nhiên nhận ra cái nực cười của bao nhiêu túi bụi một đời người, trước cái thong dong, thơ thới của cây cảnh và người, nói thì vô chừng. Như ông cậu Hồ Dzếnh của tôi, đã đặt chân đến đất kinh kỳ, từ hơn chục năm về trước, ở phố Hòa Mã, để cầu danh. Nay cũng lui về thành Nam, sống ở ven đô chứ không ở trong thành phố, vui thú điền viên cùng một mảnh vườn nho nhỏ…”.
***
Ấy Bác ạ, vườn nhà tôi không được cái thanh cảnh, trầm mặc và tiên cốt, như khu vườn cụ Vĩnh, nhưng được cái rộng đến một sào rưỡi ta đấy, một sào tức ba trăm sáu mươi mét vuông, hay mười công thợ ngòai Bắc mình chứ ít ỏi gì. Tôi biết Bác đang tặc lưỡi, nhăn mặt với ngôn từ, sao không là bộ, là mét, mà lại rắc rối với sào, với mẫu, ở cái thời buổi gạo châu củi quế này…Vâng, tôi hiểu và tôi không nhà quê, nhà mùa đâu Bác ạ, cũng đi Tây đ
đi Tầu cả đấy chứ, nhưng dài dòng một chút thì thời ông nội tôi, cả tộc hai, ba đời bám vào ba sào ruộng, cũng qua ông cụ đẻ tôi thì ông nội tôi môi mỏng, suốt ngày rượu với thơ phú với mảnh vườn nho nhỏ, công danh phù thế không qua chùm cau, khóm trúc. Đến tam đại, tứ đại là thời thằng cháu đích tôn là tôi, ông cụ đẻ tôi vẫn thường nhiếc, mới nứt mắt đã cây với cỏ, rượu thì như hũ chìm, từ đó, tôi gần gũi ông nội tôi hơn qua hình bóng sào ruộng, mảnh vườn là vậy.
Tôi biết đầu óc Bác đang lùng bùng, nào mời Bác quá bộ ra vườn sau cho thóang đãng một chút, thực tình tôi không biết bắt đầu từ đâu và ngừng lại ở chỗ nào. Này nhé, quẹo trái, đi thẳng hay rẽ phải đều phải bước qua cái cầu…Bác lắc đầu, tôi cũng tự nhận là ôm đồm, thái quá, có một lần, tần mần đếm tới hơn chín cái đủ lọai, cầu gỗ, cầu đá, cầu “bê-tông”. Phẳng lặng quá thì cũng nhàm chán, tôi muốn bước cao bước thấp như lên non tìm động hoa vàng đấy thôi. Vả lại, tôi như chìm đắm trong mấy câu ca dao dân gian:
Giã ơn cái cối, cái chày
Nửa đêm gà gáy, có mày có tao
Giã ơn cái cọc, cầu ao
Nửa đêm gà gáy, có tao có mày
Hình như tôi Bác đang hòa nhập: “Ta đi thơ thẩn bên vườn mộng, em nấp sau hoa khúc khích cười”, thôi Bác ơi, già rồi còn thơ thẩn, mộng với mơ gì nữa, với tôi thì bây giờ chỉ còn bạn bè xa cũng như gần, như cái cọc, cầu ao. Mà Bác vừa hỏi gì vậy, “Cái cọc ?”, không phải cái cọc đâu Bác ơi, đó là mấy cái đế rải rác quanh vườn, người phương Tây thì họ đặt tượng, riêng tôi thì để mấy chậu Bonsai lên cho lạ mắt đấy mà.
Bác nói gì vậy, tôi nghe không rõ, già cả rồi, dạo này tai nó hơi nghễng ngãng, à Bác hỏi vườn tôi là vườn Nhật hả ? Thì cũng phiên phiến, hình thức như làm dáng vậy thôi, tôi nói thực đấy. Nói cho ngay thì tôi cũng chẳng bon chen mầu mè gì lắm đâu, vườn Tầu thì nặng nề, ở quê ta là vườn cây ăn trái, còn Nhật thì nó nhẹ nhàng hơn, cùng lãng đãng một chút nào bàng bạc của Thiền quán. Qua mảnh vườn này, tôi lõm bõm góp nhặt được chút nào hay chút nấy:
“…Bước trên lối đi nhỏ (roji) như lang thang của tâm thức, như góp nhặt sỏi đá trên nẻo đường trần, lác đác với những chiếc lá vàng và bỏ lại đằng sau cơn mê trần. Cũng vì ảnh hưởng của Thiền học, nên vườn Nhật được hài hòa giữa giao động và tĩnh lặng: Giao động được bố cục trong một khu dầy đặc với tùng bách, thác nước, cùng âm động của vô thức, tiếng róc rách rào rạt của máng nước tre chẩy xuống vại, xuống hồ, để bụi trần tan lõang, cùng tiếng thở dài của gió thỏang qua cỏ cây như hệ lụy mang mang bay bổng.
Và tĩnh lặng là khỏang đất trống trải, với rêu phong mọc dầy trên mảng đất mịn, rải rác đâu đây là năm, ba hòn đá thô, thóang trông thì chơi vơi lạc lõng nhưng thực sự được sắp sếp theo khuôn mẫu, có tan có hợp, tất cả chỉ là giấc kê vàng cùng tiếng chuông tỉnh thức, biểu tượng trầm mặc là ngôi chùa bằng đá (ishidoro) thầm lặng dưới tàng cây, ẩn hiện giác ngộ là cơn mộng du giữa ban ngày…”
Bác lắc đầu nhăn mặt, tôi cũng đang u mê, vườn tược quái qủy gì mà khó khăn qúa vậy. Trăm sự tại tôi, lụy vào chữ nghĩa để rồi lằng nhằng, nhồi nhét Bác quá sức. Tôi cũng muốn lơ thơ tơ liễu buông mành cùng khỏang vườn nhỏ bé xinh xinh trong một ngày nắng hanh: “Trèo lên cây bưởi hái hoa, bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân”. Làng nước người mình qua đây, mang cả vườn rau, vườn húng, trải rộng khắp hang cùng ngõ hẻm…Bác nói gì “ồm ộp”, ấy đấy, cóc nhái ễnh ương nó rủ rê kêu gọi nhau Bác ạ, thế nào mai trời cũng mưa gầm sấm chớp. Trời đất nghĩ cũng lạ, cứ đào hồ vét ao, là y như rằng, thế nào chuồn chuồn có ngày ở đâu kéo nhau bay về, rồi chiều thế nào cũng ào một cái là mưa, mưa đấy rồi cũng tạnh ngay đấy…
Thôi thì cứ thủng thẳng, mình cứ thong dong vừa đi vừa nói chuyện cỏ cây, nào mời Bác quẹo trái, trước đây là vườn Thiền, chỉ trải sỏi trắng gợn sóng và cô đọng lẻ loi là một hòn đá. Ở đấy, một ngày như mọi ngày, tôi cũng học đòi đi tìm bản ngã của chính mình, nhức đầu chóng mặt, tìm đâu không thấy, chỉ thấy một mầu trắng phẳng lặng buồn nẫu người, cùng tảng đá cục mịch đến vô duyên. Để “ngộ”, để “đạt” bằng cách tôi phá bỏ nó đi, hì hục tướt người đào cái hồ, không có gạch Bát Tràng cho nàng rửa chân, thì tôi loay hoay bắc cái cầu gỗ chênh vênh, tảng đá thì tôi lui cui đục hang, khóet hốc trồng cây lưa thưa như một hoang đảo đơn độc. Còn bức tượng Thiền sư thì tôi vớt vát lại, ông cũng lưu lạc như tôi, nay ngồi không chỉ tay qua bên kia bến nước, như muốn gửi gấm về một khỏanh khắc nào đó, thật xa, xa lắm, nằm tận sâu trong ký ức tự thuở nào:
Ai ra bến nước trông về Bắc
Chỉ thấy mây trôi, chẳng thấy làng
Làng nước của tôi gói ghém và gửi gấm ở cái hóc hẻm này, bác thả bộ thêm vài bước nữa để tôi chỉ cho bác, cái ngõ trúc và con đường nho nhỏ sâu hun hút kia…Đường quê đất Bắc của riêng tôi đấy bác ạ, chưa hết, những cành trúc dầy đặc lá, nghiêng ngả cong dài về một phía, như có một chút âm u nhưng thanh tịnh và vắng lặng, âm hưởng của rặng chuối sau hè. Bác hãy chịu khó lom khom chui dưới vòm trúc ấy và chậm rãi dẵm từng bước…ngõ hẹp ao sâu, chỉ thiếu chút mưa phùn, đường mưa ướt đất với gió heo may, lá cành xào xạc và tận đằng cuối ngõ, xa vắng là cái cầu gỗ chơ vơ. Mà Bác đang lẩn thẩn gì vậy:
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo
Từng mây lơ lửng trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co, khách vắng teo
Ừ thì cái tuổi này, Bác cũng như tôi, chẳng còn gì để bám víu ngòai quê nhà, cây đa bến cũ, thôi thì còn đó có đó, cứ để đấy đã, mình trở lại cái cửa hồi nãy và ra vườn trước, Bác nhìn cái hồ hơi lạ mắt phải không Bác, lại có cả chiếc cầu gỗ ọp ẹp. Đúng ra mò mẫm với cái thác nước này, tôi cũng có hơi mậy mọ một chút, là dung hòa hòn non bộ của miền bắc Trung Hoa, chỉ thuần đá không thôi và nghệ thuật sếp đá của Nhật, và gán ghép cái tên “Hòn Non Nước”. Ngang mặt hồ, đặt một phiến đá mỏng như hòn cù lao, ở trên ấy tôi sắp ba hòn đá to nhỏ khác nhau, ngất ngưởng theo cái thế thiên, địa, nhân, hòn này gần, cục kia xa, có cao có thấp…
Viết thì viết vậy, nhưng khổ một nỗi, làm xong ngắm đi ngắm lại thì cũng hơi khập khiễng, chẳng khác gì “Cái Giếng” của cụ bà Hồ xuân Hương năm xửa năm xưa:
Cầu trắng phau phau đôi ván ghép
Nước trong leo lẻo một dòng thông
Cỏ gà lún phún leo quanh mép
Cá giếc le te lách giữa dòng
Bác hỏi tôi hai chữ Nho trên cái chậu kia hả, thực tình tôi cũng lờ mờ vì nó là chữ Nhật, tôi đóan là tsukubai, là hòn đá được khóet sâu như cái vại để chứa nước, dùng để rửa tay trước khi vào trà thất. Nước chẩy qua đốt tre gộc khẳng khiu (kakeki), lửng lơ bắc ngang hòn đá với dòng nước rơi lõm bõm không ngừng nghỉ. Nhưng điểm tôi vừa ý sau này, là hòn đá dựng đứng trơ trọi lừng lững ở hồ trên, gần cả mười năm tôi cứ lấn cấn với nó, rồi một giây phút yên sĩ phi lý thuần ập tới, tôi khoan một cái lỗ làm cái thác nước, nước róc rách từ trên cao len lỏi chẩy xuống qua tàn cây. Chưa hết, sau này tôi lại đục lại đẽo sâu vào đá theo dòng thác như…nước chẩy đá mòn, rồi ngồi dài mòn mỏi đợi một ngày đá sẽ rêu xanh.
Tôi biết Bác hơi…chóang váng, hay là mình tạm ngồi ở cái ghế này một lát, tôi vẫn thường thích ngồi ở đây…Cứ hoang tưởng, phiêu bạt về một quán nước bên đường, như Quang Dũng ngày nào: “Tiền nước trả rồi nắng gắt, đường xa chóang váng núi và mây” và phóng mắt nhìn qua dẫy đá, hồ nước, cái cầu và tận đằng xa là một khu vườn um tùm, hoang liêu như một cõi đi về, thôi thì cứ để tâm tư lãng đãng bồng bềnh về một chốn hư không cùng những người xưa năm cũ, hồn ở đâu bây giờ…Bác nhíu mày phân vân, thì cứ để đấy, tôi sẽ nhỏ to với Bác sau, bây giờ hãy đảo xéo qua bên tay phải, đó là cái cầu Nhật bắc qua dòng suối khô, rải rác trải rộng là những viên sỏi lớn nhỏ và tôi đặt tên là Suối Mơ, hòai vọng về một Văn Cao với em đến chơi một lần để rồi tất cả chỉ là một thóang mờ nhân ảnh. Rồi lại vướng víu, hòa lẫn bởi hai câu thơ Đường: “Kỵ lư quá tiểu kiều, độc thán mai hoa sấu”, vì vậy, năm ngóai, tôi lại lụi cụi trồng cây mai Nhật tên Toyo Nishiky là là bên bờ suối:
Giang mai, mai ở bờ sông
Trong thơ Đỗ Phủ, ngàn năm vẫn buồn
Tàn rồi một độ hoa xuân
Thiền sư ngửa mặt tần ngần với mai
Bác đang mỉm cười vu vơ, mà ai chẳng một lần hòai cảm với mộng và mơ…và đằng sau là mảnh vườn trúc đen cũng của Nhật, bây giờ thì nó còn lưa thưa còm cõi, hai, ba năm nữa, như một thóang mây bay, rồi Bác sẽ thấy, thân trúc bằng ngón tay cái, đen tuyền, cao vút, ngả nghiêng lơi lả theo gió chiều…Mà Bác cứ lẩn thẩn nghĩ mà xem, nếu làng quê đất Bắc mình mà thiếu rặng tre đầu làng cuối ngõ, thiếu khóm trúc sau góc đình, bên bờ ao thì cũng một phần nào mất mát đi những nét bàng bạc trong tâm khảm, để chẳng có Võ Phiến với “Quê Ngọai”, cùng Bàng bá Lân với “Hỡi cô tát nước bên đàng, sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi”, để đi vào văn học sử sau này, phải không Bác. Nhớ ngày nào, như mới đâu đây, lần mò về vườn Cò bên kia Thủ Đức, lười biếng nằm thõng người trên cái võng trong bụi tre gộc dầy đặc, giữa buổi trưa hè, gió hiu hiu thổi, đắm chìm trong tiếng kẽo kẹt của thân cây tre cọ vào nhau, lắng đọng qua tiếng lá tre xào xạc xanh um…Êm ả, thanh tịnh, khác hẳn tiếng võng đưa vắng lặng và âm ỷ của mẹ ru con bên trái nhà, hòa lẫn tiếng chó sủa vu vơ tận cuối thôn, nhưng rồi như nhạt nhòa hòa lẫn, đẩy đưa về âm vọng xa vắng, mộc mạc và bình dị của hương đồng cỏ nội và chỉ thiếu cánh diều căng gío của cái tuổi ấu thời, đánh khăng đánh vụ, về một vùng quê có vụ chiêm, vụ mùa, tiếng chày giã gạo rộn rã dưới đêm trăng vằng vặc, chênh chếch sau ngọn cau. Tất cả bây giờ chỉ là hòai niệm xa vời vợi, nhưng gắn bó không rời.
Hình như tôi hơi lẩn thẩn rồi thì phải, à mà bác ngắm cái gì vậy, hóa ra hòn non bộ, Bác và tôi lúc nào cũng vậy, thích quay về với các cụ ta xưa: “Trói chân kỳ ký tra vào rọ, rút ruột tang bồng trả nợ cơm”. Bóng ngả đường chiều, cả một hòai bão tang bồng thu nhỏ vào trong hòn giả sơn, như ốc mượn hồn…Và cũng thưa với Bác, hòn non bộ này ảnh hưởng của miền nam Trung Hoa đấy Bác ạ, có nước có non, sông núi cùng ngư tiều canh độc. Chậu và đá cũng nhiêu khê mang từ Hà Tiên qua, của đi tìm người thật đấy, nhưng nặng khiếp, nặng kinh người, được cái sườn núi chênh vênh có nhiều hóc hẻm nên tôi cứ dấm dúi ông tiều, ông canh vào hốc này, mỏm kia để có chỗ che mưa dầm nắng “Lom khom dưới núi tiều vài chú, lác đác bên sông rợ mấy nhà”. Ngang ngang đỉnh núi phất phơ có mấy ông tiên đánh cờ với bình rượu túi thơ cùng ngàn năm mây bay “Bước xuống đèo Ngang bóng sế tà, cỏ cây chen đá, đá chen hoa”, lại phải tẩn mẩn bắc cái cầu cho mấy tiên ông xuống núi ngắm trời ngắm nước, đâu đây “Gác mái ngư ông về viễn phố, gõ sừng mục tử tại cô thôn” và xa xa, ẩn hiện qua lùm cây bên dòng nước là “Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo, sóng biếc theo làn hơi gợn tí”:
Mặt nước mênh mông nổi ba hòn
Tiếng già nhưng núi vẫn còn non
Mảng cây thưa thớt đầu như trọc
Tảng đá cheo leo ngấn chửa mòn
Một lá về đâu xa thăm thẳm
Nghìn làng trông xuống bé con con
Bây giờ Bác lại ngậm ngùi, trong Bác đang “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc, thương nhà mỏi miệng cái gia gia”, thôi Bác ạ, sông có khúc người có lúc, vận nước non nhà đã vậy rồi, thở than u hòai cũng vậy thôi, tất cả chỉ là giấc mộng Nam Kha, có tan có tụ, cùng sắc sắc không không:
Bản lai vô xứ sở
Xứ sở thị chân tông
Chân tông như thị huyễn
Huyễn hữu tức không không
Để tôi đưa Bác tới khu vườn hoang liêu như một ốc đảo mà lúc nẫy tôi đã chỉ cho Bác, Bác thấy trong dẫy cây phong đỏ dầy đặc, có cái đầu tượng Phật Chàm bằng đá cẩm thạch trắng, to cũng gần bằng cái nồi ba mươi. Đấy Bác thấy không, cùng vận nước nổi trôi, dân tộc Chàm mất nước rồi cũng có mặt ở đây, để dãi dầu sương gió “Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, nước còn cau mặt với tang thương”, để rồi Bác nghĩ mà xem, Tháp Chàm cùng Thăng Long hòai cổ, qua những lớp sóng phế hưng cũng nhạt nhòa: “Lối xe ngựa cũ hồn thua thảo, nền cũ lâu đài bóng tịch dương” đang cìm dần dần trong quên lãng của vang bóng một thời, nhất là trong lúc này, đất khách quê người trong những ngày luân lạc, gặp nhau cũng không ngòai vấn vương tri giao quái ngã sầu đa mộng...
***
Bác cũng hơi khật khừ rồi đấy, dạo này hay trái nắng trở trời, rước Bác quá bộ về “Trà thất” dùng tách trà đầu ngày. Tôi cũng hơi chém to kho mặn, gọi quá là “Trà thất” cho có văn vẻ, thực ra, như Bác đã thấy, chỉ là dàn cây gỗ kèo này cột kia, gác ngang vắt dọc, chỉ có khác là mớ cây leo rậm rạp um tùm đầy bóng mát, lâu ngày cây rủ xuống che ngang tầm mắt, âm u, cô tịch như cái thảo am. Nào mời Bác dùng trà, tôi không múa bút như một trà nhân nào đó: “Từ tốn ngồi xuống trong tĩnh lặng của chân không, qua làn khói trà nhẹ tênh, tan lõang và cùng đi tìm những giây phút lắng đọng của tâm thức”. Riêng tôi chỉ dung dị, đơn thuần, mỗi buổi sáng dưới bóng mát mầu xanh của dàn cây leo, tôi lại u hòai về một khúc nhạc có cái tên “Bóng Mát”, âm hưởng như vang vọng: “Còn đâu nữa, tiếng hát ca dao ru tôi vào đời, dưới bóng tre xanh đong đưa nhịp võng, đã cho tôi bóng mát cuộc đời, còn đâu nữa, gió ngát hoa cau trong đêm dần tối, ngõ trúc trăng lên rong chơi hội làng, tiếng sáo lang thang theo chim về núi…mãi đi hoang, mãi lang thang…đã quên đi bóng mát cuộc đời”.
Và cũng mỗi buổi chiều cuối tuần, tôi thường ngồi đấy, đắm chìm trong mông lung và xa vắng, đưa cay cùng…khói vàng bay lên cây.
Nào mình quẹo trái thăm thú mấy kệ cây của tôi, Bác hỏi về Bonsai ấy hả, ngắn và gọn thì từ đời Hán, đời Đường, người Trung Hoa đã tận thu tứ hải sơn hà vào ao, hồ, hòn non bộ... Sau này đến Bosai, cây cối, rừng rậm cũng được thu gọn trong chậu nhỏ như tục bó chân bó cẳng, và một thời có tên là “Cây thế” hay “cây Nhật lùn”, mặc dù vườn nhà cũng có khá bộn, nhưng tôi chỉ chắt chiu với hai lọai, cây tùng bách và cây si. Với cây tùng thì thằng bạn tôi có hai câu chữ Nho, đủ nói lên tất cả: “Tuế bất hàn vô dĩ tri tùng bách, sự bất nan vô dĩ tri quân tử”. Riêng vườn nhà có một cây si cổ thụ, cũng đâu đó gần trăm năm, mấp mé sấp sỉ một đời người “nhân sinh bách tuế vi kỳ”, gốc cằn cỗi sần sùi mốc meo, rễ buông chằng chịt chẩy dài từ trên xuống dưới, như cây đa cây đề cạnh miếu đền, vậy mà cũng lạ lắm Bác ạ, nó như ngậm nhấm vào xương vào tủy. Mỗi lần ngắm cây si già nua ấy, tôi lại lãng đãng, mường tượng về một khung trời nào đó, cùng những chiếc bình vôi lăn lóc bên miếu thổ địa, mái âm dương rêu phong ẩm ướt, mỗi mớ rễ cây, mỗi chiếc bình vôi, ẩn hiện cả một quãng đời, qua bao thế hệ, chôn chặt gắn bó với đất đai làng nước, năm này qua năm khác cùng những ngày tháng đong đưa.
Từ chậu Bonsai đến chậu kiểng lớn, thực tình tôi muốn thầm khoe với Bác, đều từ quê mình mang sang. Nếu Bác hỏi tôi gửi gấm gì ở vườn nhà, chẳng dấu gì Bác cũng thấy, không ngòai gói ghém qua mấy cái chậu vô tri vô giác, tôi nói thực đấy…Mỗi lần lang thang trong vườn nhà với gió và mây, trong những ngày nhạt nắng, bâng khuâng nhìn cái chậu đồ gốm mầu gạch cua đồng, con rồn uốn khúc đầy hồn tính, cái chậu men sành mầu ngọc bích, cùng những đường nét hoa văn, thanh và dung dị, cái chậu mầu huyết dụ, như cái đỉnh nhang, mộc mạc và đơn sơ…mang mang qua những địa danh cùng những niên đại một thời ngày nào. Bác tặc lưỡi, hình tượng chỉ là cục đất sét, sau đó là nung với nướng, thành cái chậu cái chum, mệt Bác quá đi…Này Bác ạ, nghệ thuật đồ gốm chân truyền qua tay nghề của các cụ xưa, Bát Tràng, Thanh Hóa, đường nét không gò bó của đời Tống. Lái Thiêu, Hà Tiên cũng chẳng nặng nề như đời Minh. Nét vẽ thóang đơn sơ một vài cọng lau, phóng khóang đan thanh dăm ba ngọn cỏ, là biểu tượng thăng trầm đổi thay cả một dòng lịch sử, từ triều đại này qua triều đại khác, nhưng vẫn giữ hoa văn cổ truyền chan chứa đầy tình tự dân tộc, bèo dạt nổi
trôi tắp về một mảnh đất nào đó của miền Nam mưa gió hai mùa, nay ngược dòng lịch sử ấp ủ bên tả ngạn sông Hồng, nước chẩy về cội cùng những đường nét gần gũi và thân quen.
Giời đất ạ, chết chửa cũng gần trưa rồi, Bác nói gì: “Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà”, gà với vịt, tôi biết Bác muốn nhắc khéo gì nữa đây, thì kỳ trước, một chuyến đò nên duyên, đã nếm qua chả cá rồi. Hôm nay thì có tiết canh vịt với bánh đa vừng, nếu răng cỏ Bác có móm mém thì tôi bảo bu cháu, xào xáo nồi ốc giả ba ba mời Bác sơi, bu cháu múa bát múa đũa, lóang một cái là xong ngay ấy mà. Có chuối xanh và một, hai lát đậu rán, ít sườn non, rau tía tô, tôi dân đồng chua nước mặn, phải có tí ti mắm tôm mới đậm đà. Tôi dạo này bụng dạ nó hơi chộn rộn, phải làm cút rượu mới xong, riêng Bác thì đừng khách sáo, cùng người nhà cả, Bác cứ dùng trà, nhất Bác đấy, mà Bác tặc lưỡi bảo tôi sướng. Sướng ở cái khổ nào ? Không dấu gì Bác, chẳng qua cũng trong cái vòng lẩn quẩn:
Đọan tống nhất sinh duy hữu tửu
Trầm tư bách kế bất như nhàn
Thạch trúc gia trang
Ngộ Không Phí Ngọc Hùng
Thứ Bảy, 16 tháng 7, 2011
Thứ Sáu, 15 tháng 7, 2011
Trở lại .
Đây là một bài viết đầu tay của tôi sau bao năm xa rời thế giơi viết lach...Hồi tôi con nhỏ chắc bé lắm chỉ mơi lơp nhất, dệ thất hay đệ lục ...tôi đã bắt đầu mê môn tập làm văn, vì tôi đã sớm cảm nhận được cái thế giơi nhỏ bé đầy yêu thuơng của tôi lúc bấy giờ ...Bé bỏng thế thôi mà tôi đã thuộc nằm lòng tiểu thuyết Kiều Giang do Hòang Hải Thủy phóng tác .Tôi lắng đọng tâm tư và cùng rung cảm vơi tâm tình của nhân vật chính trong truyên. Tôi như đang sống trong hòan cảnh đó , khung cảnh đó của một mùa đông xứ Huệ lạnh lẽo. Cô bé mồ côi Kiều Giang sống lạc lõng trong ngôi nhà không tình thương, đầy giả dối của bà mơ và những dứa con ngỗ nghịch của bà ..cô bé đã leo ngồi sau bức màn cửa sổ để trốn cái cảnh đời hiện tại và cũng để mơ mộng phóng tầm mắt đi thật xa ..Cô đã nhìn thấy cảnh những đúa trẻ mồ côi mỗi ngày vẫn hàng đàn đi qua trong cơn gió rét.... Tuổi thơ của tôi đã gậm nhấm nỗi buồn , nỗi cô đơn lớn lao của cô gia sư nghèo nàn , nhưng đầy cá tính của Kiêu Giang khi đến làm gia sư cho con gái của ông kỹ sư Đào Trọng Tường ,một nhân vật kỳ lạ và nhiều tính cách đàn ông.Tình yêu của họ thật trong sáng và lớn lao như hình ảnh thơ mông của tòa nhà cổ kính khuất lấp trong núi đồi của thành phố Đà lạt.. Mặc cho giông bão của cuộc đời cái tình yêu có thật đó đã đem lại một hạnh phúc có thật với kết thúc thật nhiều cảm xúc ....
Thứ Năm, 14 tháng 7, 2011
Thái Bình , một lần về thăm....
Thái Bình, tên goi của một dải đất nằm bên bờ sông Hồng của miền Bắc xa xôi bỗng như trở nên thật gần gũi và thân thương đối với tôi từ ngày theo chân ông xã về thăm quê chồng tôi tận làng Thượng Tầm tỉnh Thái Bình ,
Mới đó mà đã hơn mười năm, đó là mùa hè năm 1999, lần đầu tiên sau nhiều năm xa cách tôi trở về Việt Nam trên một chuyến bay dài mười mấy tiếng đồng hồ . Chúng tôi quyết định về Bắc thăm quê cha đất tổ trước rồi sau đó mới về thăm lại Saigon. Vừa xuống máy bay chúng tôi đã phải đương đầu với mấy khuôn mặt hắc ám , nặng như chì của những nhân viên Hải quan xã hội chủ nghĩa…Tôi đang lóng ngóng vì không biết có gì trục trặc mà ông cớm này sóat giấy tờ mãi không xong .. Cuối cùng hắn vứt trả lại tờ kê khai hành lý của chúng tôi và sỗ sàng phán một câu “ mờ quá , viết lại tờ này đi. ..Tôi vôi vã cầm bút đồ lại những dòng chữ của tờ khai báo,mà trong lòng bỗng dấy lên nỗi lo âu. Vì đây là lần đầu tiên chồng tôi về Việt Nam sau gần ba mươi mấy năm.xa cách lỡ có chuyện gì không hay xảy ra cho chàng thì tôi thật ân hận biết chừng nào. Sau khi hòan tất thủ tục đầu tiên ,một tay hắn gạt mấy tờ kê khai có kẹp tờ 5 dollar ở phía dưới cùng một cách chuyên nghiệp vào ngăn tủ ở bên dưới , một tay ông đầy tớ nhân dân của tôi đã chỉ về phía phòng lấy hàng hóa ..Chúng tôi mừng rỡ bước vội đị . Lại thêm một chặng thủ tục đầu tiên nữa ở trạm kế tiếp . Anh cán bộ trẻ đã thân mật gạt ông xã tôi sang đứng một bên vì “ Anh nhà đã lâu mới về thăm nên không rõ thủ tục hãy để yên cho chị nhà làm việc …”Lấy được mấy vali hành lý ra chúng tôi vẫn chưa hòan hồn vì bị một đám đông các bác xe ôm , taxi , xich lô giằng kéo chào mơi`…Trong một rừng người láo nháo lộn xộn đó thì ông xã tôi nhận ngay ra chị Đông ,người chị cả khác dòng còn kẹt lại hơn năm mươi năm đất Bắc. Trên khuôn mặt đôn hậu của người chị chồng có những đường nét hao hao giống bố chồng tôi lộ đầy vẻ mừng rỡ. Chi cất lớn tiếng gọi chúng tôi.:các em ơi chị Đông đây !! Chồng tôi đã lao tới và ôm chòang lấy người chị đã xa cách nhau bao năm trời. Sau giây phút hạnh ngộ mừng mừng tủi tủi thật nhiều xúc động không bút mực nào diễn tả hết được.
Rời khỏi sân bay Nội Bài chúng tôi trở về Hà nội trên một chiếc xe đò chở khách đặc biệt là chỉ chở có nhóm bốn người Việt kiều chúng tôi mà thôi . Lâu lắm rồi tôi mới sống lại cái cảm giác ngồi trên chuyến xe đò đi học mỗi sáng sớm hồi nhỏ của tôi ở quê nhà . .Gíó hòa lẫn khói xe thổi bần bật bên ngòai cửa sổ như tăng thêm cái oi bức chói chan của mùa hè miền Bắc và tiếng động cơ ầm ầm át cả tiếng trò truyện rôm rã của chúng tôi. Xe chạy qua mấy cánh đồng lúa xanh rì thỉnh thỏang gặp những đọan đường lổm chổm ổ gà chiếc xe lại lắc lư kêu lên lạo xạo như ốc nhái sắp sửa bị long hết ra…Trước khi vào thành phố xe cũng phải qua một cổng trả tiền cho một đọan đường cao tốc đang được thi công dở dang . Về tới Hà Nội tôi như chóang ngợp với sự đổi thay của một Hà Nội mới với nhà cửa ,đường phố, con người,,Hình như nhà cửa phố xá mọc lên như nấm với những kiến trúc thời thượng đủ kiểu, cao thấp, lớn bé, nhô ra thụt vào không theo một quy cách nào cả , Màu sắc của những ngôi nhà thì lại lôm côm tê, hại hơn vi trình độ thẩm mỹ hạn hẹp của chủ nhân chúng làm cho Hà Nội như khóac vào một bộ mặt của cô gái nạ dòng diêm dúa điểm trang. Đó là chưa kể đến quán xá ,xe cộ ,bảng quảng cáo ngập những chữ nghĩa linh tinh .. Đường phố Hà nội như thu nhỏ lại vi lượng người và xe chen chúc đến chóng mặt . Ôi giờ tìm đâu được một góc thuần nhất của ba mươi sáu phố phường Hà Nội năm xưa. Thỏang tôi cũng bắt gặp lại một vài hình ảnh cũ của cánh áo bà ba trắng,quần lĩnh đen, chiếc xe đạp đằng sau có đèo mấy mớ rau muống..Xe chay qua hồ Hòan Kíếm tâm hồn như chùng xuống với nước hồ thu lung linh soi bóng những hàng cây lặng lẽ đứng bên đường…
Sau mấy ngày du hành thủ đô Hà Nội, chị Đông đã hợp đồng ô tô con để đưa chúng tôi về thăm quê Thái Binh.Chúng tôi khởi hành từ sáng sớm ,sau chầu cà phê sáng ở một quán cóc đầu ngả tư .Nói là quán cho có vẻ sang chứ thực ra chỉ là một túp lều được chắp vá bằng mấy tấm tôn,khách ngồi xung quanh chiếc bàn gỗ vừa nhâm nhi tách cà phê cái ly ngồi trên cái cốc,,vừa có thể nhìn ngắm phố phường người xe như mắc cửi của giờ tầm .
Từ Hà Nội về Thái Bình cũng non 30 cây số mải vui câu chuyện với mấy cậu em họ trên xe chúng tôi quên mất thời gian và chăng đường xa . Thành phố Hà Nội từ từ bị bỏ lại phía sau ,hai bên đường bắt đầu xuất hiện những cánh đồng lúa xanh rì thỉnh thỏang lại chen màu lúa chín vàng của mùa gặt đang tới . Chúng tôi bồi hồi không ít khi xe vào đến tận đầu làng Này có phải là con đường cái quan với những vòm tre tỏa bóng mát . Có biết bao bàn chân của bao con người ,bao thế hệ đã đi qua đây ..
Hình hnhư ông xã tôi đã xúc động thật nhiều.. Hẳn là chàng đã xa quê từ năm 54, ngày ấy anh chỉ mới lên 10. Con đường đê này cậu bé con chân đi đôi guốc dong đã trươt lên trựơt xuống bao lần khi theo mẹ đi lễ nhà thờ những sáng mờ sương, những hôm trời mùa hè mây trong vắt cậu oắt tì vừa nhảy chân sáo vừa nhấm nháp thử hũ rượu trắng và đĩa thịt cầy mua dùm cho ông bác họ…Về đến nhà thì mỗi thứ đã vơi đi phân nửa .Kỷ niệm này anh còn nhớ và nhắc hòai mãi đến hôm nay đã trên bốn mươi năm mới được một lần về thăm lại quê cha đất tổ .
Qua cổng làng xe chúng tôi phải dừng lại đóng chút lệ phí để vào làng theo đúng phép nước. Chúng tôi xuống xe và đi vào thôn xóm phía trước mặt, vẫn còn những ngôi nhà tranh vách đất chen lẫn những ngôi nhà tường vôi mái đỏ xây san sát. Hình như mỗi ngôi nhà đều có gắn liền với một mảnh vườn , một ao rau muống mọc xanh um …Chị Đông chỉ cho chúng tôi ngôi nha` cũ của gia đình chồng tôi ,gió đồng nội thổi lên mát rượi chúng tôi đã dự định dũng chân lại lâu nhưng bỗng dưng có một bà nạ dòng đầu vấn khăn mỏ quạ,răng đen mã tấu ( Bắc Kỳ thứ thiệt ) xuất hiện ,một tay cầm cán chổi cùn bà vừa quơ vừa cất lớn tiếng hỏi: Các ông bà ở đâu về đây mà dám đòi đất đòi nhà…Thế là chúng tôi vội trở lại xe vì sợ gặp phải những người quá khích sinh lắm chuyện không hay. Chị Đông hướng dẫn chúng tôi đến thăm khu mộ Tổ của dòng họ .
Xe chúng tôi tiếp tục lăn bánh và lại đi qua mấy cánh đồng lần này xe đỗ lại bên đường và chúng tôi lần mò vào khu nghĩa trang rộng lớn . Càng đi sâu vào trong cỏ cây chằng chịt và nước ngập úng đến tận cổ chân. Cuối cùng chúng tôi cũng đã tìm thấy được khu mộ Tổ của Phí Gia tộc . Chị Đông bày trái cây, thắp hương và đốt giấy tiền mã vàng bạc . Sau đó vợ chồng tôi cùng chị sì sụp khấn lạy Tổ tiên ,mong các cụ an vui cảnh giới Phương Tây luôn phù hộ cho con cháu ở trong cũng như ngòai nước được bình yên , hạnh phúc luôn sống hay , sống đẹp để không phụ lòng mong mỏi của các bậc tiền bối .
Trời đã ngả bóng , trên đường về chúng tôi theo chị Đông ghé vào thăm nhà ông chú họ cũng ở gần đấy .Chúng tôi bước vào ngôi nhà có bàn thờ Tổ họ ,với mảnh tường vôi xám cũ còn trơ lại dấu vết của mùa lũ lụt năm trước.. giữa nhà là bộ ván gõ,còn có những câu dối liễn treo trên tường đã vàng ố . Ông chú họ người tầm thước ‘ năm nay đã cao tuổi nhưng dáng dâp còn nhanh nhảu và cười nói vui vẻ như pháo rang khi nhắc lại các người thân quen cũvà những kỷ niệm ngày xa xưa ..
Tôi bước ra vườn sau , cây trái mọc xum xuê, ở cuối vườn là những liếp rau thơm,có cả những cây ớt , cà chua sai trái đang mùa chín rộ . Con gái bác đã hạ một buồng chuối chín cây cho chúng tôi giải khát . Ôi chuối ngọt lịm , đúng hương vị đặc biệt của chuối cau quê có khác . Sau đó chúng tôi còn được ông chú nài ép ở lại để dùng bữa cơm trưa đạm bạc với gà luộc lá chanh , bún thang Bắc thật đậm đà tình tự quê hương..
Lúc này tôi chợt nhận ra rằng người Thái Bình vẻ ngòai thật bình dị chân phương nhưng bên trong chứa đưng nhiều tình cảm dạt dào ...Thái Bình cũng là mảnh đất nổi tiếng với tinh thần đấu tranh quật khởi , dám nói dám làm, Tôi muốn nói đến phong trào nổi dậy của dân đen Thái Bình mấy năm trước . Mặc dù bị nhà nước thẳng tay đàn áp nhưng người Thái Bình đã không hề khiếp sợ ..Còn biết bao điều nữa mà tôi chưa thể nói hết đươc…
Tôi còn nhó mãi cái cảm giác lạ lung lâng lâng khi chúng tôi gĩa từ Thái Bình để đi Phát Diệm , xuống phà Tân Đệ gió thổi lồng lộng tôi nhìn thấy dòng nước chảy xiết, sóng vỗ ì ầm vào mạn tàu …Chung quanh chúng tôi chen chúc những người và xe đủ các loại xe bé ,xe to xe đạp ,xe gắn máy cả tiếng người rao hàng ing ỏi ..tôi nhìn thấy những khuôn mặt lem luốc của các em bán vésố , những bàn tay gầy gò run rẩy của những cụ già ăn mày khổ sở… Và còn nhiều nhiều những hình ảnh của những mảnh đời đau thương khác đã cứ đeo bám ám ảnh tôi mãi cho đến giờ..Ôi Việt Nam , quê hương tôi . Bao giờ người dân Việt mới thóat khỏi cảnh lầm than khổ đau, được sống cho ra sống. Bao giờ quê mẹ mới thật sự thái bình ,ấm mo hạnh phúc …
Tất cả câu trả lời còn ở phía trước như dòng sông ầm ầm vang vọng mong mõi một ngày về của đàn con Việt xa xứ .....
Một đêm mùa Xuân trên đất Mỹ 2o11...
Mới đó mà đã hơn mười năm, đó là mùa hè năm 1999, lần đầu tiên sau nhiều năm xa cách tôi trở về Việt Nam trên một chuyến bay dài mười mấy tiếng đồng hồ . Chúng tôi quyết định về Bắc thăm quê cha đất tổ trước rồi sau đó mới về thăm lại Saigon. Vừa xuống máy bay chúng tôi đã phải đương đầu với mấy khuôn mặt hắc ám , nặng như chì của những nhân viên Hải quan xã hội chủ nghĩa…Tôi đang lóng ngóng vì không biết có gì trục trặc mà ông cớm này sóat giấy tờ mãi không xong .. Cuối cùng hắn vứt trả lại tờ kê khai hành lý của chúng tôi và sỗ sàng phán một câu “ mờ quá , viết lại tờ này đi. ..Tôi vôi vã cầm bút đồ lại những dòng chữ của tờ khai báo,mà trong lòng bỗng dấy lên nỗi lo âu. Vì đây là lần đầu tiên chồng tôi về Việt Nam sau gần ba mươi mấy năm.xa cách lỡ có chuyện gì không hay xảy ra cho chàng thì tôi thật ân hận biết chừng nào. Sau khi hòan tất thủ tục đầu tiên ,một tay hắn gạt mấy tờ kê khai có kẹp tờ 5 dollar ở phía dưới cùng một cách chuyên nghiệp vào ngăn tủ ở bên dưới , một tay ông đầy tớ nhân dân của tôi đã chỉ về phía phòng lấy hàng hóa ..Chúng tôi mừng rỡ bước vội đị . Lại thêm một chặng thủ tục đầu tiên nữa ở trạm kế tiếp . Anh cán bộ trẻ đã thân mật gạt ông xã tôi sang đứng một bên vì “ Anh nhà đã lâu mới về thăm nên không rõ thủ tục hãy để yên cho chị nhà làm việc …”Lấy được mấy vali hành lý ra chúng tôi vẫn chưa hòan hồn vì bị một đám đông các bác xe ôm , taxi , xich lô giằng kéo chào mơi`…Trong một rừng người láo nháo lộn xộn đó thì ông xã tôi nhận ngay ra chị Đông ,người chị cả khác dòng còn kẹt lại hơn năm mươi năm đất Bắc. Trên khuôn mặt đôn hậu của người chị chồng có những đường nét hao hao giống bố chồng tôi lộ đầy vẻ mừng rỡ. Chi cất lớn tiếng gọi chúng tôi.:các em ơi chị Đông đây !! Chồng tôi đã lao tới và ôm chòang lấy người chị đã xa cách nhau bao năm trời. Sau giây phút hạnh ngộ mừng mừng tủi tủi thật nhiều xúc động không bút mực nào diễn tả hết được.
Rời khỏi sân bay Nội Bài chúng tôi trở về Hà nội trên một chiếc xe đò chở khách đặc biệt là chỉ chở có nhóm bốn người Việt kiều chúng tôi mà thôi . Lâu lắm rồi tôi mới sống lại cái cảm giác ngồi trên chuyến xe đò đi học mỗi sáng sớm hồi nhỏ của tôi ở quê nhà . .Gíó hòa lẫn khói xe thổi bần bật bên ngòai cửa sổ như tăng thêm cái oi bức chói chan của mùa hè miền Bắc và tiếng động cơ ầm ầm át cả tiếng trò truyện rôm rã của chúng tôi. Xe chạy qua mấy cánh đồng lúa xanh rì thỉnh thỏang gặp những đọan đường lổm chổm ổ gà chiếc xe lại lắc lư kêu lên lạo xạo như ốc nhái sắp sửa bị long hết ra…Trước khi vào thành phố xe cũng phải qua một cổng trả tiền cho một đọan đường cao tốc đang được thi công dở dang . Về tới Hà Nội tôi như chóang ngợp với sự đổi thay của một Hà Nội mới với nhà cửa ,đường phố, con người,,Hình như nhà cửa phố xá mọc lên như nấm với những kiến trúc thời thượng đủ kiểu, cao thấp, lớn bé, nhô ra thụt vào không theo một quy cách nào cả , Màu sắc của những ngôi nhà thì lại lôm côm tê, hại hơn vi trình độ thẩm mỹ hạn hẹp của chủ nhân chúng làm cho Hà Nội như khóac vào một bộ mặt của cô gái nạ dòng diêm dúa điểm trang. Đó là chưa kể đến quán xá ,xe cộ ,bảng quảng cáo ngập những chữ nghĩa linh tinh .. Đường phố Hà nội như thu nhỏ lại vi lượng người và xe chen chúc đến chóng mặt . Ôi giờ tìm đâu được một góc thuần nhất của ba mươi sáu phố phường Hà Nội năm xưa. Thỏang tôi cũng bắt gặp lại một vài hình ảnh cũ của cánh áo bà ba trắng,quần lĩnh đen, chiếc xe đạp đằng sau có đèo mấy mớ rau muống..Xe chay qua hồ Hòan Kíếm tâm hồn như chùng xuống với nước hồ thu lung linh soi bóng những hàng cây lặng lẽ đứng bên đường…
Sau mấy ngày du hành thủ đô Hà Nội, chị Đông đã hợp đồng ô tô con để đưa chúng tôi về thăm quê Thái Binh.Chúng tôi khởi hành từ sáng sớm ,sau chầu cà phê sáng ở một quán cóc đầu ngả tư .Nói là quán cho có vẻ sang chứ thực ra chỉ là một túp lều được chắp vá bằng mấy tấm tôn,khách ngồi xung quanh chiếc bàn gỗ vừa nhâm nhi tách cà phê cái ly ngồi trên cái cốc,,vừa có thể nhìn ngắm phố phường người xe như mắc cửi của giờ tầm .
Từ Hà Nội về Thái Bình cũng non 30 cây số mải vui câu chuyện với mấy cậu em họ trên xe chúng tôi quên mất thời gian và chăng đường xa . Thành phố Hà Nội từ từ bị bỏ lại phía sau ,hai bên đường bắt đầu xuất hiện những cánh đồng lúa xanh rì thỉnh thỏang lại chen màu lúa chín vàng của mùa gặt đang tới . Chúng tôi bồi hồi không ít khi xe vào đến tận đầu làng Này có phải là con đường cái quan với những vòm tre tỏa bóng mát . Có biết bao bàn chân của bao con người ,bao thế hệ đã đi qua đây ..
Hình hnhư ông xã tôi đã xúc động thật nhiều.. Hẳn là chàng đã xa quê từ năm 54, ngày ấy anh chỉ mới lên 10. Con đường đê này cậu bé con chân đi đôi guốc dong đã trươt lên trựơt xuống bao lần khi theo mẹ đi lễ nhà thờ những sáng mờ sương, những hôm trời mùa hè mây trong vắt cậu oắt tì vừa nhảy chân sáo vừa nhấm nháp thử hũ rượu trắng và đĩa thịt cầy mua dùm cho ông bác họ…Về đến nhà thì mỗi thứ đã vơi đi phân nửa .Kỷ niệm này anh còn nhớ và nhắc hòai mãi đến hôm nay đã trên bốn mươi năm mới được một lần về thăm lại quê cha đất tổ .
Qua cổng làng xe chúng tôi phải dừng lại đóng chút lệ phí để vào làng theo đúng phép nước. Chúng tôi xuống xe và đi vào thôn xóm phía trước mặt, vẫn còn những ngôi nhà tranh vách đất chen lẫn những ngôi nhà tường vôi mái đỏ xây san sát. Hình như mỗi ngôi nhà đều có gắn liền với một mảnh vườn , một ao rau muống mọc xanh um …Chị Đông chỉ cho chúng tôi ngôi nha` cũ của gia đình chồng tôi ,gió đồng nội thổi lên mát rượi chúng tôi đã dự định dũng chân lại lâu nhưng bỗng dưng có một bà nạ dòng đầu vấn khăn mỏ quạ,răng đen mã tấu ( Bắc Kỳ thứ thiệt ) xuất hiện ,một tay cầm cán chổi cùn bà vừa quơ vừa cất lớn tiếng hỏi: Các ông bà ở đâu về đây mà dám đòi đất đòi nhà…Thế là chúng tôi vội trở lại xe vì sợ gặp phải những người quá khích sinh lắm chuyện không hay. Chị Đông hướng dẫn chúng tôi đến thăm khu mộ Tổ của dòng họ .
Xe chúng tôi tiếp tục lăn bánh và lại đi qua mấy cánh đồng lần này xe đỗ lại bên đường và chúng tôi lần mò vào khu nghĩa trang rộng lớn . Càng đi sâu vào trong cỏ cây chằng chịt và nước ngập úng đến tận cổ chân. Cuối cùng chúng tôi cũng đã tìm thấy được khu mộ Tổ của Phí Gia tộc . Chị Đông bày trái cây, thắp hương và đốt giấy tiền mã vàng bạc . Sau đó vợ chồng tôi cùng chị sì sụp khấn lạy Tổ tiên ,mong các cụ an vui cảnh giới Phương Tây luôn phù hộ cho con cháu ở trong cũng như ngòai nước được bình yên , hạnh phúc luôn sống hay , sống đẹp để không phụ lòng mong mỏi của các bậc tiền bối .
Trời đã ngả bóng , trên đường về chúng tôi theo chị Đông ghé vào thăm nhà ông chú họ cũng ở gần đấy .Chúng tôi bước vào ngôi nhà có bàn thờ Tổ họ ,với mảnh tường vôi xám cũ còn trơ lại dấu vết của mùa lũ lụt năm trước.. giữa nhà là bộ ván gõ,còn có những câu dối liễn treo trên tường đã vàng ố . Ông chú họ người tầm thước ‘ năm nay đã cao tuổi nhưng dáng dâp còn nhanh nhảu và cười nói vui vẻ như pháo rang khi nhắc lại các người thân quen cũvà những kỷ niệm ngày xa xưa ..
Tôi bước ra vườn sau , cây trái mọc xum xuê, ở cuối vườn là những liếp rau thơm,có cả những cây ớt , cà chua sai trái đang mùa chín rộ . Con gái bác đã hạ một buồng chuối chín cây cho chúng tôi giải khát . Ôi chuối ngọt lịm , đúng hương vị đặc biệt của chuối cau quê có khác . Sau đó chúng tôi còn được ông chú nài ép ở lại để dùng bữa cơm trưa đạm bạc với gà luộc lá chanh , bún thang Bắc thật đậm đà tình tự quê hương..
Lúc này tôi chợt nhận ra rằng người Thái Bình vẻ ngòai thật bình dị chân phương nhưng bên trong chứa đưng nhiều tình cảm dạt dào ...Thái Bình cũng là mảnh đất nổi tiếng với tinh thần đấu tranh quật khởi , dám nói dám làm, Tôi muốn nói đến phong trào nổi dậy của dân đen Thái Bình mấy năm trước . Mặc dù bị nhà nước thẳng tay đàn áp nhưng người Thái Bình đã không hề khiếp sợ ..Còn biết bao điều nữa mà tôi chưa thể nói hết đươc…
Tôi còn nhó mãi cái cảm giác lạ lung lâng lâng khi chúng tôi gĩa từ Thái Bình để đi Phát Diệm , xuống phà Tân Đệ gió thổi lồng lộng tôi nhìn thấy dòng nước chảy xiết, sóng vỗ ì ầm vào mạn tàu …Chung quanh chúng tôi chen chúc những người và xe đủ các loại xe bé ,xe to xe đạp ,xe gắn máy cả tiếng người rao hàng ing ỏi ..tôi nhìn thấy những khuôn mặt lem luốc của các em bán vésố , những bàn tay gầy gò run rẩy của những cụ già ăn mày khổ sở… Và còn nhiều nhiều những hình ảnh của những mảnh đời đau thương khác đã cứ đeo bám ám ảnh tôi mãi cho đến giờ..Ôi Việt Nam , quê hương tôi . Bao giờ người dân Việt mới thóat khỏi cảnh lầm than khổ đau, được sống cho ra sống. Bao giờ quê mẹ mới thật sự thái bình ,ấm mo hạnh phúc …
Tất cả câu trả lời còn ở phía trước như dòng sông ầm ầm vang vọng mong mõi một ngày về của đàn con Việt xa xứ .....
Một đêm mùa Xuân trên đất Mỹ 2o11...
Hồi ức quê nhà
HỖI ỨC QUÊ NHÀ
Soan Phi
Tôi phải bắt đầu từ đâu nhỉ? Hình như từ một điểm chấm phá rất nhỏ của thời thơ ấu.. ..Ngày ấy, gia đình tôi theo dòng người di cư vào Nam để lại trên đất Bắc ông bà ngọai, các bác các cô chú cùng họ hàng thân thích với bao thương nhớ…Tôi vẫn nhớ mãi những mẫu chuyện mà anh em chúng tôi đã được nghe bà kể không biết dến bao nhiêu lần về quê nhà miền Bắc xa xôi của chúng tôi.
Sinh trửơng trong một gia đình nho, ông ngoại tôi suốt cuộc đời vừa đi dạy học vừa hốt thuốc chữa bịnh cho người nghèo. Ông nội tôi rất giàu có, là một trong những người sáng lâp Nhà máy sợi Nam. Cụ nhiều vợ và nhiều dòng con, tuy là con cầu tự nhưng bố tôi là vai trưởng trong gia đình…Năm bố tôi mười một tuổi, ông nội tôi bạo bệnh qua đời bố tôi được gửi vào hoc nội trú Sainthomas. Sớm ảnh hưởng nền văn minh Tây học, ông đã tham gia hoat động của phong trào Hướng đạo Việt nam ngay từ nhưng ngày đầu hội mới thành lập. Năm 1942, bố tôi đã đạp xe đạp vòng quanh Đông Dương, ông được cấp bằng Hiệp sỹ ở trại Bạch Mã.
Bố mẹ tôi lập gia đình hồi ông bà còn rất trẻ. Ngày ấy mẹ tôi vừa mừơi sáu, bà xinh đẹp nổi tiếng ở phố Khách Nam Đinh. Nhà ông bà ngọai tôi là hiệu thuốc Bắc Lợi ký nếu ai đà từng ở Nam Điịnh hẵn đều biết tên. Mười ba tuổi, mẹ tôi đã theo phong trào đợt sống mới cắt tóc phi dê, mặc áo dài nhung, quần lĩnh trắng, đeo vòng kiềng….Mẹ tôi được đi học trường ma soeur rất kỷ luật, quy củ và nề nếp. Mỗi kỳ nghỉ hè me tôi đều được đi chơi bãi biển Sầm Sơn hay xuống Hải Phòng ở nhà của cụ Hai là chị của bà ngọai cả mùa hè để học buôn học bán. Me tôi vẫn nhắc hoài về những gánh hàng xén gồm những món quà mà tuổi thơ trẻ con nào cùng rất yêu thích nào là gương, lược, nơ, kẹp tóc, guốc mộc và cả những con giống đủ các lọai súc vât với nhiều màu sắc đẹp mắt. Khi mẹ tôi đến tuổi cập kê được ông bà ngọai cho ra trông cửa hàng, chiều nào đám học trò con trai vẫn hay dâp dìu qua lại. Một lần bố tôi đã bị hai anh bạn học bế tung vào cửa hàng ngã lăn quay bổ ngửa thế là bố mẹ tôi đã phải lòng nhau từ đấy.. Đám cưới của bố mẹ tôi hẳn là lớn lắm vì cả hai bên đều là gia đình bề thế.
Nhưng ngày vui và hạnh phúc của bố mẹ tôi thật ngắn ngủi vì chiến tranh đã đổ tới, bố tôi theo tiếng gọi thanh niên đã lên đừơng đi làm cách mạng. Mẹ tôi theo ông bà ngọai tản cư về phủ Nghĩa Hưng. Lúc này một nách bà đã có ba con. Chị cả Hoàng Yến mới lên ba tuổi, mẹ tôi bảo chị xinh như một thiên thần. Mỗì lần bị anh em nắm tóc ăn hiếp chị chỉ nước mắt vòng quanh ngọng ngiụ mách mẹ ơi tụi nó cắn con. Căn bịnh yết hầu đã cướp đi người chị cả thân yêu của chúng tôi. Mẹ tôi kể chị mất đi ngày ấy là một nỗi đau lớn của bố mẹ tôi thời son trẻ. Từ ấy, bô mẹ tôi nhất định sẽ không bao giờ đặ tên con gái là tên các lòai chim chóc nữa vì sợ con mình se bay đi mất như cánh chim hòang yến…
Cuộc chiến ngày càng khốc liệt, từ thành thị đến thôn quê nơi nào có dấu giầy của thực dân Pháp đi qua là nơi đó đầy những dấu tích của đổ nát hoang tàn. Cùng với biết bao tài sản của bố mẹ tôi, của đồng bào tôi đà cúng cho chính phủ Việt Minh lúc đó với chiêu bài đánh đuổi thực dân Pháp giành tự do độc lập cho đất nước. Nhưng đó chỉ là giấc mơ vì ngày ấy hẳn còn xa lắm, chín năm bồng bế lũ con thơ, bỏ nhà bỏ cửa chạy tản cư. Mẹ tôi kể về những nỗi sợ hãi của những lần giăc Pháp càn quét xóm làng, mẹ ngồi ôm chặt đàn con dại vào lòng chỉ sợ mọi hiểm nguy bất trắc có thể đổ xuống mái đầu của các con thơ. Có một.thời gian gia đinh tôi theo ông ngoai vào tận Khu Tư thăm bố tôi theo kháng chiến, nhưng được không lâu mẹ tôi quyết đinh dắt dìu bâỳ con trốn trở lại thành trên một chiếc thuyền tam bản trong một đêm tối trời, sương mù phủ dâỳ đặc. Khi qua đồn canh của giặc tất cả mọi người già trẻ lớn bé đều nín thở hồi hộp vì phải giữ im lặng, không một tiếng động nhỏ, nhất là tiếng con nít khóc. Trong bóng đêm, mẹ tôi quơ tay đếm cho đủ năm mái đâù của từng đứa con thì bà mới yên tâm. Một ngày cuối thu, bố tôi lặn lội từ chiến trường xa trở về, trên người ông bộ quần áo kaki rách tả tơi. Me tôi bảo rằng nếu ngày ấy bố tôi không về thì chăc là bố tôi phải bỏ xác lại nơi chiến trường và chúng tôi sẽ vĩnh viễn không bao giờ còn bố nữa.
***
Năm 1954 theo làn sóng di cư vào Nam, bố mẹ tôi bồng bế đưa các anh chi tôi vào Sài Gòn. Đêm cuối cùng gia đinh tôi lên Hà Nội. Hà nộị đêm ấy không khí thật lạ lùng không sao diễn tả được nỗi lòng của người sắp phải xa lìa nơi quê cha đât tổ mà không biết đến bao giờ mới được trở lại...Cả Hà Nội đêm ấy dường như không ai ngủ được, đêm đã khuya lắm mà vẫn còn đông người từ các nơi đổ về, họ bồng bế gồng gánh mang theo những gì quý giá, thân thuộc nhất của họ từ cái lu to tướng đến những cái nồi, cái chõ đen nhẽm…
Hai năm sau ngày di cư vao Nam mẹ tôi đã sinh tôi ra giữa lòng Sài Gòn ở khu phố Richeau đông đúc người Bắc di cư sinh sống. Nơi đây bố tôi tham gia Tổng ủy di cư và ông tiếp tục làm việc cho chính quyền Nguyễn Văn Thinh. Sai Gòn đúng là hòn ngọc Viễn Đông. Một vùng đất thât trù phú với những xe lô, hàng qúan, chợ búa, hàng hóa trái cây thực phẩm tràn ngập...Mặc dù con người, tiếng nói, lối sống thiệt thà chân chất của người miền Nam còn rất lạ lẫm với chúng tôi, nhưng mảnh đất này như chất chứa một sức sống mãnh liệt đã luôn cuốn hút và rộng mở vòng tay đón nhận những đứa con xa xứ..
Sau đó bố mẹ tôi đã dọn về khu ngọai ô Gia Định, đó là một ngôi nhà lớn được xây theo kiểu Tàu nằm ngay dưới dốc chân cầu Băng Ky, xung quanh là vườn cây um tùm . Lúc này tôi đã là đứa con thứ chin, sau tôi còn thêm ba cậu em trai tôi nữa..Mẹ tôi đã mười bốn lần sinh đẻ nhưng bà lúc nào cũng giữ nguyên vẻ son sắt mặn mà của ngươi con gái Nam Định năm xưa. Hiện nay gia đình tôi chỉ còn mười một anh ẹm. Gia đình đông con hẳn là bố mẹ tôi đã phải vất vả lắm để nuôi dạy chúng tôi nên người. Đây là quãng đời thơ ấu đẹp nhất của tôi lúc còn ở quê nhà. Tôi còn nhớ mãi từng kỷ niệm nơi căn nhà mà ba mươi tám năm tôi được chung sô'ng và lớn lên với đầy đủ bố mẹ anh chi em quây quần bên nhau.
Những ngày mưa lũ,nước thường tràn vào nhà bọn con nít chúng tôi được nghỉ học tha hồ được nghịch phá.. Chúng tôi thả những chiếc thuyền giấy trôi bập bênh trên dòng nước. Những lúc đó bố tôi thường ngồi đọc báo hay ông đang lắng tai nghe tin tức chiến sự từ một chiếc radio. Mẹ tôi và chị Bích tôi thì đang thổi cơm từ một cái bếp lò dã chiến ,hai bàn tay của mẹ tôi đen nhám vì ám than củi để chúng tôi lúc nào cũng có những bữa cơm nóng canh sốt..
Hôm thì mẹ tôi xào rau muống với thịt bò canh dưa chua mà tôi thích nhất là món chả trứng Nam Định, một món ăn dân dã bình dị mà cho đến giờ tôi vẫn không quên được cái dư âm cắn một miếng chả đã thấy ngập miệng, cái vị béo béo dòn dòn của thịt băm trộn lẫn mỡ khổ.. Những ngày trời mưa không đi chợ đươc thì mẹ lại sai anh tôi bắt con vịt nhà vặt lông làm món vịt luộc giấm ghém ăn với hoa chuối chan với nắm tôm dầm chanh đường rồi cả nhà cùng sì sụp xơi. Đã hơn năm mươi năm qua rồi mà tôi vẫn nhớ như in những hương vị đậm đà đặc biệt không nơi nào có như những bữa cơm từ bàn tay của mẹ tôi nấu...
Những đêm tắt điện tối trời chúng tôi bắc ghế ra sân dưới bầu trời đầy trăng sao chúng tôi ngồi xúm xít quanh mẹ để nghe bà kể chuyện ngày xưa…Những câu chuyện về cuộc đời của mẹ tôi như một pho tiểu thuyết sống động của ngừơi mẹ Việt Nam suốt cả cuộc đời đã hy sinh tận tụy vì chồng vì con, tôi đã được nghe mẹ tôi kể đi kể lại suốt cả một thời thơ ấu và những câu chuyện đó đã hành trang đi theo tôi vào cuộc đời..
Lớp vỡ lòng nơi tôi đã được cô giáo tập đọc tập viết chữ i chữ tờ là ngôi nhà cổ kính có những lùm cây ăn tra'i xum xuê nằm bên cạnh một bờ sông với những ao rau muống chen chúc trong những đám lục bình nở rộ hoa tím. Giờ ra chơi là một hồi kẻng thường bị át đi vì tiếng động của một xưởng cưa gỗ ở gần đó cứ rền rỉ âm vang đi cả vào giấc ngủ tuổi thơ của tôi suốt bao năm trời.
Trước cửa nhà tôi hồi ấy là Quốc lộ số 1 sau là đường Nguyễn Văn Học, mỗi sáng khi trời còn tối đen như mực tôi đã theo chân chị tôi đón xe đò đi học, ắt hẳn vì tôi còn bé lắm nên các chú lơ xe thường nhấc bổng tôi lên và không lấy tiền của tôi. Mới bé tí mà tôi đà sớm hiểu được tình đồng lọai và sự chia xẻ. Trò chơi mà tôi thích nhất ngày ấy là thả diều .Vào những buổi chiều trời lộng gió tôi theo mấy đứa em trai chạy khắp xóm để thả những con diều đủ màu sắc mà tôi đã phải cặm cụi cắt giấy,vót tre làm cả buổi trời mới xong .Khi cánh chiều đã bay xa tân tít chân trời chúng tôi thường mãi mê nhìn theo cho đến khi trời tối mịt, có lúc gió thổi mạnh diều căng nặng tay và bứt dây bay mất trên bầu trời ngã sậm màu bóng chiều tà. Tôi về nhà với tâm trạng thẩn thờ như vừa mất mát cái gì đó rất thân yêu .
Ký ức tôi còn in đậm những kỷ niệm về mùa khai trường, bố mẹ tôi thường đưa chúng tôi đi mua sắm tập vở, cặp sách. Tôi vẫn thường mê man hít ngửi cái mùi thơm của tập vở mới rồi tự tay mình bao bìa dán nhãn để ngày mai hân hoan đến trường đón chào năm học mới. Đến Trung Thu chúng tôi ríu rít được bố mẹ chở lên Chợ Lớn đế mua lồng đèn, đầu lân, ông địa.. Chúng tôi đã ngắm nhìn không chán mắt nhũng chiếc Lồng đèn đủ các màu sắc và đủ các hình thù con thú .. Dưới ánh trăng vàng vằng vặc hòa cùng đám con nit của cả khu xóm chúng tôi sung sướng cầm đèn trên tay lũ lượt đi rước khắp phố phường.
Rồi những ngày Tết Nguyên Đán với đầy đủ hương vi cổ truyền Việt Nam. Năm nào nhà tôi cũng có những đòn bánh trưng xanh do chính tay bố tôi gói thật đẹp vào đêm ba mươi tết, tôi cùng bố, anh Nghĩa ngồi canh bánh ch'in. Đến nửa đêm thì mẹ tôi sửa sọan cúng giao thừa là lúc cả nhà cùng thức dậy ăn mặc chỉnh tề ra mừng tuổi bố mẹ và nhận những đồng tiền lì xì mới với những cái phong bao đỏ. Trong tiếng pháo ròn rả của mọi nhà để mừng năm mới, tôi xúng xính trong những bộ quần áo còn thơm mùi mới,tôi như cảm nhận được cái không khí Tết thật đầm ấm, thiêng liêng vô cùng.
Và cứ như thế năm tháng đi qua tôi đã lớn lên trong vòng tay yêu thương bão bọc của gia đình. Tôi cũng đã lớn lên theo chiều daì năm tháng của cuộc chiến hai miền Nam Bắc. Bố mẹ tôi đã phải lần lựơt tiễn đưa các anh của tôi vào quân ngũ, chiến tranh ngày một leo thang. Ngày ấy, cả khu xóm tôi chỉ có một nhà có một máy truyền hình, với tôi là cả thế giới lạ lùng và thu hút nên thỉnh thỏang tôi vẫn trốn mẹ sang coi cọp nhà hàng xóm...Đau khổ nhất là lúc tôi đi thi vào đệ thất trường Gia Long thì bài luận văn của tôi trúng ngay cái đề bài em hãy tường thuật lại một chương trình ti vi mà em yêu thích nhất .Thế là tôi đành ngồi cắn bút chịu trận. Đây cũng là lần thất bại đầu tiên trong thời thơ ấu của tội .
***
Tết Mậu Thân tôi vừa tròn mười hai tuội. Mùng hai cả nhà vừa đi chúc Tết họ hàng về. Trời chiều sập tối, chúng tôi đã nghe có tiếng súng nổ lẫn trong tiếng pháo đì đạch, rồi có lịnh giới nghiêm cả thành phố vắng tanh không một ai được ra khỏi nhà.. Tiếng súng lại càng vang dội ngay giữa đừơng phố ngày một lớn hơn. Nhà tôi nằm lọt vào khu chiến sự nên các binh sĩ đặt lô cốt ngay trong nhà tôi .
Bố mẹ tôi quyết định phải tản cư khỏi vùngchiến sự. Bố tôi đã giăng ở đầu xe một lá cờ trắng có dấu chữ thập đỏ để đưa chúng tôi cùng tất cả những tài sản qui' giá nhất để chạy vào trung tâm thành phố .Tôi nhìn lại ngôi nhà thân yêu bị bỏ lại phía sau với nỗi ngậm ngùi trẻ thơ,mới hôm qua còn rộn rã không khí Tết với những phong pháo, những chậu hoa mai vàng chưa kịp nở mà hôm nay đã là binh đao khói lửa. Xe chạy qua các trại tạm cư trường học đều chật kín người, cả nhà tôi lên ở nhờ bác tôi tận chung cư Nguyễn Huệ .Trên tầng lầu chín mỗi tối tôi ra ban công nhìn về phía chân trời xa nơi vẫn có những đốm hỏa châu rực sáng. Đâu đó vẫn có khói lửa ngập tràn cả một vùng trời... Tất cả đã là một dấu ấn buồn trong tâm hồn thơ dại của tôi lúc bấy giờ..Và những năm sau đó, chúng tôi lớn lên trong tình hình chiến tranh ngày một sôi động, tôi vẫn hay đứng ở hành lang lơp học trông vời về phía trời xa thẳm dường như ở đó vang vọng bên tai tôi…về thân phân của một nước nhược tiểu về những nghịch lý của cuộc chiến tranh ý thức hê…
***
. Năm tôi học lớp 12 là năm xảy ra biến cố 30 Tháng 4 đen. Sài Gòn thất thủ, người Mỳ đã quay lưng với cuộc chiến tranh Viêt Nam. Họ cắt viện trợ, rút quân về nước, bỏ rơi quân lực Việt Nam Cộng Hòa và Bắc việt đã xua quân cưỡng chiếm miền Nam.
Tôi còn nhớ, đêm 29 tháng 4…Đêm đó, đêm cuối cùng của Sài Gòn, đài phát thanh và đài truyền hình đã bỏ ngõ chỉ phát lên những bài hát tôi nghe buồn não nuôt..Gia dình ông cậu tôi sau khi theo đòan người chen chúc di tản chạy từ miền Trung về gặp biết bao cảnh tượng hãi hùng nên đã quyết định ở lại không đi đâu nữa .Nằm dưới gầm bàn làm căn hầm dã chiến không ngủ được, thao thức mãi tôi mường tượng dường như có điều chẳng lành sắp xảy ra tôi lắng nghe tiếng xe cộ ầm ầm chở người di tản chạy về phía phi trừờng, và tôi ngủ thiếp đi trong tiếng rì rầm của những chiếc máy bay cất cánh suốt đêm hôm ấy..
11 giờ sáng 30 tháng 4, sau khi nghe lời tuyên bố đầu hàng của ông Dương Văn Minh. Tôi bàng hòang mục kích cảnh tượng ngày tàn của một đât nước, quần áo, ba lô giầy dép, súng ống vương vãi đầy trên mặt đường…Mọi người nhìn nhau ngơ ngác, buồn vui chen lẫn sợ hãi như vừa phải rơi vào một cõi hỗn mang..Tiếng súng đâu đó còn vọng lại…Bầu trời nặng trĩu những đám mây xám xịt cũng như tâm hồn tôi đang trĩu nặng một nỗi đau của sự mất mát.
Từ đầu cầu Băng Ky, lần đầu tiên tôi trông thấy những người bộ đội Bắc Việt cùng đòan xe tăng đang từ từ tiến vào thành phố. Dưới chiếc nón cối tôi nhìn thấy họ hình như còn rất trẻ,cùng một dòng máu đỏ da vàng, cùng một thời tuổi trẻ với bầu nhiệt huyết nhưng bây giờ họ là kẻ chiến thắng và tôi vô hình chung đứng về phía những người chiê'n bại, những người thuộc chế độ cũ, những thành phần giai cấp tiểu tư sản thiếu giác ngộ cách mạng..vv..và vv..
Mặc dù lúc đó tôi chưa rời nhà trường, chưa hề bước chân vào đời, tuổi trẻ của tôi như trang giấy trắng chưa hề có một tì vết, nhưng lúc này là lúc tôi bị giao động cùng cực giữa trắng đen. Thực hư..cái gi là chân lý..
Chỉ sau một đêm thức dậy cả một chính thể bị sụp đổ, cả một quân đội bị tan rã, cả một xã hội bị đảo ngược và cả con người cùng phải bi gột rữa tẩy não …Và người Cộng Sản huyênh hoang với tất cả từ ngữ đẹp nhất, nào là chuyên chính vô sản, làm chủ đất nước, cơm no áo ấm, công bằng hạnh phúc, độc lập tự do, liêm chính chí công , đầy tớ của nhân dân ..vv và vv..Tất cả chỉ là những khẩu hiệu vô nghĩa bao hàm sự lừa mị, gian dối và xảo quyêt..Nhưng cái đau khổ nhất là chính bản thân tôi và nhiều người Sài Gòn lúc đó cũng đà bị cuốn vào vòng xóay của cái cỗ xe giết người khổng lồ đó mà không hề hay biêt..Và cứ như thế tôi đã sống với nguời Cộng Sản đã gần hai mươi năm. Hai mươi năm tưởng là đã nhuộm đỏ minh theo màu cờ máu, tưởng là tôi đã chôn kín cái lý lịch bị bôi đen vì có ba người anh học tập cải tạo và hai người thân ở nước ngòai.
Tên chủ tịch phừơng lúc đó là một tay nằm vùng đã từng ăn dầm ở dề trong nhà tôi, với cái nghề thợ mộc bố mẹ tôi đã giúp đỡ hắn lúc sa cơ lỡ vận nhưng khi trời sập 30 Tháng 4 lên nắm quyền thế trong tay. Hắn quay đầu lai trù dập gia đinh tôi, mỗi lần tôi lên phường giấy tờ là trái tim tôi muốn vỡ ra vì sợ hãi và tức giân.. Hắn đã thẳng tay phê phán vào tờ lý lich xin thi vao đại học cua tôi là gia đình tôi thuộc thành phần di cư cần đi vùng kinh tế mới, bản thân chưa có tinh thần yêu lao dộng và nặng đầu óc tiểu tư sản, xa rời quần chúng cần phải đi thanh nien xung phong ...
Từ nay cổng trừơng đại học vĩnh viễn khép chặt cánh cửa ,tôi bị vứt vào cuộc đời để lăn lộn kiếm sống. Trong ba năm thi rớt đại học, lại không xin vao công ty ,xí nghiệp nào được, để yên thân tôi vào phường tham gia phong trào xóa nạn mù chữ và dạy bổ túc văn hóa cho những trẻ em nghèo thất học cùng những người già mù chữ. Đây là thời gian tôi được gần gũi đồng bào nghèo khổ của minh..Tuy làm việc không lương nhưng với tôi đây là niềm hạnh phúc lớn vì mình còn được làm việc, còn được cái giá trị là con người hữu ich..Thời gian này các anh tôi dều đi tù trong những trại cải tạo, bố mẹ tôi lại phải chắt bóp từng gói đường, thịt rang, mắm khô, thuốc men để lặn lội đi thăm nuôi. Anh cả lúc đầu ở Suối Máu, Long Khánh, sau bị đổi ra tận Vĩnh Phú. Còn anh thứ bị kẹt lai là hàng binh trước 75 anh bị đi tù tân Quảng Trị -Thừa Thiên...Bố mẹ tôi cũn phải gồng gánh lội mấy cánh đồi trọc để tiếp tế nuôi con...
Mấy năm sau đó nhờ bác tôi là cán bộ ở ngòai Bắc vào làm giấy bảo lãnh tôi vào học Trung học Sư phạm để ra đi dạy học .Mở đầu một khúc quanh mới của đời tôi. Lần đầu tiên tôi được tiếp xúc với cái gọi là nhà trường xã hội chủ nghĩa, các thầy cô miền Bắc rất nhiệt thành, nhưng cũng rất khuôn khổ với một chương trình học nhồi sọ sặc mùi tuyên truyền chính trị.. Nào là chủ nghĩa vô sản sẽ là đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản...Văn học thì chỉ được học Tố Hữu với " từ ấy trong tôi bừng nắng hạ, mặt trời chân lý ch'oi qua tim " ..Nhưng lý thuyết chỉ là một màu chì xám xịt, mà thực tiễn mới là một cây đời mãi mãi xanh tươi…Trong trí óc non nớt và ngây thơ của tôi ngày ấy cái gì cũng qúa đẹp qúa hay, tôi đã ngưỡng mộ cái lý tưởng sống vì mọi người rồi tôi tâm niệm mình sẽ đi theo lối sống đó cho đến mãi về sau này tôi mới thấu hiểu được hết đươc cái cốt lõi đích thực của người Cộng Sản. Tất cả chỉ là sự giả trá khéo che đậy, sự phỉnh lừa lấp liếm của chế độ từ thế hệ này sang thế hệ khác. Thật là tội nghiệp cho tuổi trẻ của chúng tôi, một thế hệ chịu nhiều thiệt thòi và mất mát…
Biết bao mồ hôi đã đổ xuống những công trường, nông trừơng xa xôi, những lần đi lao động ngâm người dưới những sình lầy tôi tự hỏi tôi là ai? Tôi đang đi về đâu? Tôi phải làm gì cho tôi được sống hữu ích để được chia gánh nặng trên đôi vai gầy của bố mẹ tôi đã vất vả hy sinh quá nhiều cho chúng tôi có được hôm nay..Cứ mỗi lần nhắm mắt lại tôi lại thấy hình ảnh bố tôi khuôn mặt sạm đen vì nắng cháy, đang oằn mình trên chiếc xe đạp vượt dốc cầu khi thì chở mẹ tôi đi chợ. Gia đình tôi vẫn sống quây quần bên nhau, mẹ tôi vẫn thức khuya dậy sớm, có rau ăn rau có cháo ăn cháo, Bàn tay của mẹ tôi lại thêm chai sần vì cuộc sống cần lao, vất vả …
Lúc này tôi đã ra đi dạy với một đồng lương giáo viên thật khiêm tốn, trong vòng gần mười năm đi dạy với một lòng yêu nghề, yêu trẻ, tôi đã có biết bao lớp học trò thân thương. Đây chính là niềm an ủi ngày ấy của tôi..và cứ như thế tuổi trẻ của tôi đã trôi qua phẳng lặng và buồn tênh như mặt nước của dòng sông cạnh ngôi nhà tôi ở..
Dòng sông mang theo những hòai niệm thưở ấu thơ và cả những ước mơ thầm kín của một thời con gaí…
Houston 19-4-2011
Soan Phi
Tôi phải bắt đầu từ đâu nhỉ? Hình như từ một điểm chấm phá rất nhỏ của thời thơ ấu.. ..Ngày ấy, gia đình tôi theo dòng người di cư vào Nam để lại trên đất Bắc ông bà ngọai, các bác các cô chú cùng họ hàng thân thích với bao thương nhớ…Tôi vẫn nhớ mãi những mẫu chuyện mà anh em chúng tôi đã được nghe bà kể không biết dến bao nhiêu lần về quê nhà miền Bắc xa xôi của chúng tôi.
Sinh trửơng trong một gia đình nho, ông ngoại tôi suốt cuộc đời vừa đi dạy học vừa hốt thuốc chữa bịnh cho người nghèo. Ông nội tôi rất giàu có, là một trong những người sáng lâp Nhà máy sợi Nam. Cụ nhiều vợ và nhiều dòng con, tuy là con cầu tự nhưng bố tôi là vai trưởng trong gia đình…Năm bố tôi mười một tuổi, ông nội tôi bạo bệnh qua đời bố tôi được gửi vào hoc nội trú Sainthomas. Sớm ảnh hưởng nền văn minh Tây học, ông đã tham gia hoat động của phong trào Hướng đạo Việt nam ngay từ nhưng ngày đầu hội mới thành lập. Năm 1942, bố tôi đã đạp xe đạp vòng quanh Đông Dương, ông được cấp bằng Hiệp sỹ ở trại Bạch Mã.
Bố mẹ tôi lập gia đình hồi ông bà còn rất trẻ. Ngày ấy mẹ tôi vừa mừơi sáu, bà xinh đẹp nổi tiếng ở phố Khách Nam Đinh. Nhà ông bà ngọai tôi là hiệu thuốc Bắc Lợi ký nếu ai đà từng ở Nam Điịnh hẵn đều biết tên. Mười ba tuổi, mẹ tôi đã theo phong trào đợt sống mới cắt tóc phi dê, mặc áo dài nhung, quần lĩnh trắng, đeo vòng kiềng….Mẹ tôi được đi học trường ma soeur rất kỷ luật, quy củ và nề nếp. Mỗi kỳ nghỉ hè me tôi đều được đi chơi bãi biển Sầm Sơn hay xuống Hải Phòng ở nhà của cụ Hai là chị của bà ngọai cả mùa hè để học buôn học bán. Me tôi vẫn nhắc hoài về những gánh hàng xén gồm những món quà mà tuổi thơ trẻ con nào cùng rất yêu thích nào là gương, lược, nơ, kẹp tóc, guốc mộc và cả những con giống đủ các lọai súc vât với nhiều màu sắc đẹp mắt. Khi mẹ tôi đến tuổi cập kê được ông bà ngọai cho ra trông cửa hàng, chiều nào đám học trò con trai vẫn hay dâp dìu qua lại. Một lần bố tôi đã bị hai anh bạn học bế tung vào cửa hàng ngã lăn quay bổ ngửa thế là bố mẹ tôi đã phải lòng nhau từ đấy.. Đám cưới của bố mẹ tôi hẳn là lớn lắm vì cả hai bên đều là gia đình bề thế.
Nhưng ngày vui và hạnh phúc của bố mẹ tôi thật ngắn ngủi vì chiến tranh đã đổ tới, bố tôi theo tiếng gọi thanh niên đã lên đừơng đi làm cách mạng. Mẹ tôi theo ông bà ngọai tản cư về phủ Nghĩa Hưng. Lúc này một nách bà đã có ba con. Chị cả Hoàng Yến mới lên ba tuổi, mẹ tôi bảo chị xinh như một thiên thần. Mỗì lần bị anh em nắm tóc ăn hiếp chị chỉ nước mắt vòng quanh ngọng ngiụ mách mẹ ơi tụi nó cắn con. Căn bịnh yết hầu đã cướp đi người chị cả thân yêu của chúng tôi. Mẹ tôi kể chị mất đi ngày ấy là một nỗi đau lớn của bố mẹ tôi thời son trẻ. Từ ấy, bô mẹ tôi nhất định sẽ không bao giờ đặ tên con gái là tên các lòai chim chóc nữa vì sợ con mình se bay đi mất như cánh chim hòang yến…
Cuộc chiến ngày càng khốc liệt, từ thành thị đến thôn quê nơi nào có dấu giầy của thực dân Pháp đi qua là nơi đó đầy những dấu tích của đổ nát hoang tàn. Cùng với biết bao tài sản của bố mẹ tôi, của đồng bào tôi đà cúng cho chính phủ Việt Minh lúc đó với chiêu bài đánh đuổi thực dân Pháp giành tự do độc lập cho đất nước. Nhưng đó chỉ là giấc mơ vì ngày ấy hẳn còn xa lắm, chín năm bồng bế lũ con thơ, bỏ nhà bỏ cửa chạy tản cư. Mẹ tôi kể về những nỗi sợ hãi của những lần giăc Pháp càn quét xóm làng, mẹ ngồi ôm chặt đàn con dại vào lòng chỉ sợ mọi hiểm nguy bất trắc có thể đổ xuống mái đầu của các con thơ. Có một.thời gian gia đinh tôi theo ông ngoai vào tận Khu Tư thăm bố tôi theo kháng chiến, nhưng được không lâu mẹ tôi quyết đinh dắt dìu bâỳ con trốn trở lại thành trên một chiếc thuyền tam bản trong một đêm tối trời, sương mù phủ dâỳ đặc. Khi qua đồn canh của giặc tất cả mọi người già trẻ lớn bé đều nín thở hồi hộp vì phải giữ im lặng, không một tiếng động nhỏ, nhất là tiếng con nít khóc. Trong bóng đêm, mẹ tôi quơ tay đếm cho đủ năm mái đâù của từng đứa con thì bà mới yên tâm. Một ngày cuối thu, bố tôi lặn lội từ chiến trường xa trở về, trên người ông bộ quần áo kaki rách tả tơi. Me tôi bảo rằng nếu ngày ấy bố tôi không về thì chăc là bố tôi phải bỏ xác lại nơi chiến trường và chúng tôi sẽ vĩnh viễn không bao giờ còn bố nữa.
***
Năm 1954 theo làn sóng di cư vào Nam, bố mẹ tôi bồng bế đưa các anh chi tôi vào Sài Gòn. Đêm cuối cùng gia đinh tôi lên Hà Nội. Hà nộị đêm ấy không khí thật lạ lùng không sao diễn tả được nỗi lòng của người sắp phải xa lìa nơi quê cha đât tổ mà không biết đến bao giờ mới được trở lại...Cả Hà Nội đêm ấy dường như không ai ngủ được, đêm đã khuya lắm mà vẫn còn đông người từ các nơi đổ về, họ bồng bế gồng gánh mang theo những gì quý giá, thân thuộc nhất của họ từ cái lu to tướng đến những cái nồi, cái chõ đen nhẽm…
Hai năm sau ngày di cư vao Nam mẹ tôi đã sinh tôi ra giữa lòng Sài Gòn ở khu phố Richeau đông đúc người Bắc di cư sinh sống. Nơi đây bố tôi tham gia Tổng ủy di cư và ông tiếp tục làm việc cho chính quyền Nguyễn Văn Thinh. Sai Gòn đúng là hòn ngọc Viễn Đông. Một vùng đất thât trù phú với những xe lô, hàng qúan, chợ búa, hàng hóa trái cây thực phẩm tràn ngập...Mặc dù con người, tiếng nói, lối sống thiệt thà chân chất của người miền Nam còn rất lạ lẫm với chúng tôi, nhưng mảnh đất này như chất chứa một sức sống mãnh liệt đã luôn cuốn hút và rộng mở vòng tay đón nhận những đứa con xa xứ..
Sau đó bố mẹ tôi đã dọn về khu ngọai ô Gia Định, đó là một ngôi nhà lớn được xây theo kiểu Tàu nằm ngay dưới dốc chân cầu Băng Ky, xung quanh là vườn cây um tùm . Lúc này tôi đã là đứa con thứ chin, sau tôi còn thêm ba cậu em trai tôi nữa..Mẹ tôi đã mười bốn lần sinh đẻ nhưng bà lúc nào cũng giữ nguyên vẻ son sắt mặn mà của ngươi con gái Nam Định năm xưa. Hiện nay gia đình tôi chỉ còn mười một anh ẹm. Gia đình đông con hẳn là bố mẹ tôi đã phải vất vả lắm để nuôi dạy chúng tôi nên người. Đây là quãng đời thơ ấu đẹp nhất của tôi lúc còn ở quê nhà. Tôi còn nhớ mãi từng kỷ niệm nơi căn nhà mà ba mươi tám năm tôi được chung sô'ng và lớn lên với đầy đủ bố mẹ anh chi em quây quần bên nhau.
Những ngày mưa lũ,nước thường tràn vào nhà bọn con nít chúng tôi được nghỉ học tha hồ được nghịch phá.. Chúng tôi thả những chiếc thuyền giấy trôi bập bênh trên dòng nước. Những lúc đó bố tôi thường ngồi đọc báo hay ông đang lắng tai nghe tin tức chiến sự từ một chiếc radio. Mẹ tôi và chị Bích tôi thì đang thổi cơm từ một cái bếp lò dã chiến ,hai bàn tay của mẹ tôi đen nhám vì ám than củi để chúng tôi lúc nào cũng có những bữa cơm nóng canh sốt..
Hôm thì mẹ tôi xào rau muống với thịt bò canh dưa chua mà tôi thích nhất là món chả trứng Nam Định, một món ăn dân dã bình dị mà cho đến giờ tôi vẫn không quên được cái dư âm cắn một miếng chả đã thấy ngập miệng, cái vị béo béo dòn dòn của thịt băm trộn lẫn mỡ khổ.. Những ngày trời mưa không đi chợ đươc thì mẹ lại sai anh tôi bắt con vịt nhà vặt lông làm món vịt luộc giấm ghém ăn với hoa chuối chan với nắm tôm dầm chanh đường rồi cả nhà cùng sì sụp xơi. Đã hơn năm mươi năm qua rồi mà tôi vẫn nhớ như in những hương vị đậm đà đặc biệt không nơi nào có như những bữa cơm từ bàn tay của mẹ tôi nấu...
Những đêm tắt điện tối trời chúng tôi bắc ghế ra sân dưới bầu trời đầy trăng sao chúng tôi ngồi xúm xít quanh mẹ để nghe bà kể chuyện ngày xưa…Những câu chuyện về cuộc đời của mẹ tôi như một pho tiểu thuyết sống động của ngừơi mẹ Việt Nam suốt cả cuộc đời đã hy sinh tận tụy vì chồng vì con, tôi đã được nghe mẹ tôi kể đi kể lại suốt cả một thời thơ ấu và những câu chuyện đó đã hành trang đi theo tôi vào cuộc đời..
Lớp vỡ lòng nơi tôi đã được cô giáo tập đọc tập viết chữ i chữ tờ là ngôi nhà cổ kính có những lùm cây ăn tra'i xum xuê nằm bên cạnh một bờ sông với những ao rau muống chen chúc trong những đám lục bình nở rộ hoa tím. Giờ ra chơi là một hồi kẻng thường bị át đi vì tiếng động của một xưởng cưa gỗ ở gần đó cứ rền rỉ âm vang đi cả vào giấc ngủ tuổi thơ của tôi suốt bao năm trời.
Trước cửa nhà tôi hồi ấy là Quốc lộ số 1 sau là đường Nguyễn Văn Học, mỗi sáng khi trời còn tối đen như mực tôi đã theo chân chị tôi đón xe đò đi học, ắt hẳn vì tôi còn bé lắm nên các chú lơ xe thường nhấc bổng tôi lên và không lấy tiền của tôi. Mới bé tí mà tôi đà sớm hiểu được tình đồng lọai và sự chia xẻ. Trò chơi mà tôi thích nhất ngày ấy là thả diều .Vào những buổi chiều trời lộng gió tôi theo mấy đứa em trai chạy khắp xóm để thả những con diều đủ màu sắc mà tôi đã phải cặm cụi cắt giấy,vót tre làm cả buổi trời mới xong .Khi cánh chiều đã bay xa tân tít chân trời chúng tôi thường mãi mê nhìn theo cho đến khi trời tối mịt, có lúc gió thổi mạnh diều căng nặng tay và bứt dây bay mất trên bầu trời ngã sậm màu bóng chiều tà. Tôi về nhà với tâm trạng thẩn thờ như vừa mất mát cái gì đó rất thân yêu .
Ký ức tôi còn in đậm những kỷ niệm về mùa khai trường, bố mẹ tôi thường đưa chúng tôi đi mua sắm tập vở, cặp sách. Tôi vẫn thường mê man hít ngửi cái mùi thơm của tập vở mới rồi tự tay mình bao bìa dán nhãn để ngày mai hân hoan đến trường đón chào năm học mới. Đến Trung Thu chúng tôi ríu rít được bố mẹ chở lên Chợ Lớn đế mua lồng đèn, đầu lân, ông địa.. Chúng tôi đã ngắm nhìn không chán mắt nhũng chiếc Lồng đèn đủ các màu sắc và đủ các hình thù con thú .. Dưới ánh trăng vàng vằng vặc hòa cùng đám con nit của cả khu xóm chúng tôi sung sướng cầm đèn trên tay lũ lượt đi rước khắp phố phường.
Rồi những ngày Tết Nguyên Đán với đầy đủ hương vi cổ truyền Việt Nam. Năm nào nhà tôi cũng có những đòn bánh trưng xanh do chính tay bố tôi gói thật đẹp vào đêm ba mươi tết, tôi cùng bố, anh Nghĩa ngồi canh bánh ch'in. Đến nửa đêm thì mẹ tôi sửa sọan cúng giao thừa là lúc cả nhà cùng thức dậy ăn mặc chỉnh tề ra mừng tuổi bố mẹ và nhận những đồng tiền lì xì mới với những cái phong bao đỏ. Trong tiếng pháo ròn rả của mọi nhà để mừng năm mới, tôi xúng xính trong những bộ quần áo còn thơm mùi mới,tôi như cảm nhận được cái không khí Tết thật đầm ấm, thiêng liêng vô cùng.
Và cứ như thế năm tháng đi qua tôi đã lớn lên trong vòng tay yêu thương bão bọc của gia đình. Tôi cũng đã lớn lên theo chiều daì năm tháng của cuộc chiến hai miền Nam Bắc. Bố mẹ tôi đã phải lần lựơt tiễn đưa các anh của tôi vào quân ngũ, chiến tranh ngày một leo thang. Ngày ấy, cả khu xóm tôi chỉ có một nhà có một máy truyền hình, với tôi là cả thế giới lạ lùng và thu hút nên thỉnh thỏang tôi vẫn trốn mẹ sang coi cọp nhà hàng xóm...Đau khổ nhất là lúc tôi đi thi vào đệ thất trường Gia Long thì bài luận văn của tôi trúng ngay cái đề bài em hãy tường thuật lại một chương trình ti vi mà em yêu thích nhất .Thế là tôi đành ngồi cắn bút chịu trận. Đây cũng là lần thất bại đầu tiên trong thời thơ ấu của tội .
***
Tết Mậu Thân tôi vừa tròn mười hai tuội. Mùng hai cả nhà vừa đi chúc Tết họ hàng về. Trời chiều sập tối, chúng tôi đã nghe có tiếng súng nổ lẫn trong tiếng pháo đì đạch, rồi có lịnh giới nghiêm cả thành phố vắng tanh không một ai được ra khỏi nhà.. Tiếng súng lại càng vang dội ngay giữa đừơng phố ngày một lớn hơn. Nhà tôi nằm lọt vào khu chiến sự nên các binh sĩ đặt lô cốt ngay trong nhà tôi .
Bố mẹ tôi quyết định phải tản cư khỏi vùngchiến sự. Bố tôi đã giăng ở đầu xe một lá cờ trắng có dấu chữ thập đỏ để đưa chúng tôi cùng tất cả những tài sản qui' giá nhất để chạy vào trung tâm thành phố .Tôi nhìn lại ngôi nhà thân yêu bị bỏ lại phía sau với nỗi ngậm ngùi trẻ thơ,mới hôm qua còn rộn rã không khí Tết với những phong pháo, những chậu hoa mai vàng chưa kịp nở mà hôm nay đã là binh đao khói lửa. Xe chạy qua các trại tạm cư trường học đều chật kín người, cả nhà tôi lên ở nhờ bác tôi tận chung cư Nguyễn Huệ .Trên tầng lầu chín mỗi tối tôi ra ban công nhìn về phía chân trời xa nơi vẫn có những đốm hỏa châu rực sáng. Đâu đó vẫn có khói lửa ngập tràn cả một vùng trời... Tất cả đã là một dấu ấn buồn trong tâm hồn thơ dại của tôi lúc bấy giờ..Và những năm sau đó, chúng tôi lớn lên trong tình hình chiến tranh ngày một sôi động, tôi vẫn hay đứng ở hành lang lơp học trông vời về phía trời xa thẳm dường như ở đó vang vọng bên tai tôi…về thân phân của một nước nhược tiểu về những nghịch lý của cuộc chiến tranh ý thức hê…
***
. Năm tôi học lớp 12 là năm xảy ra biến cố 30 Tháng 4 đen. Sài Gòn thất thủ, người Mỳ đã quay lưng với cuộc chiến tranh Viêt Nam. Họ cắt viện trợ, rút quân về nước, bỏ rơi quân lực Việt Nam Cộng Hòa và Bắc việt đã xua quân cưỡng chiếm miền Nam.
Tôi còn nhớ, đêm 29 tháng 4…Đêm đó, đêm cuối cùng của Sài Gòn, đài phát thanh và đài truyền hình đã bỏ ngõ chỉ phát lên những bài hát tôi nghe buồn não nuôt..Gia dình ông cậu tôi sau khi theo đòan người chen chúc di tản chạy từ miền Trung về gặp biết bao cảnh tượng hãi hùng nên đã quyết định ở lại không đi đâu nữa .Nằm dưới gầm bàn làm căn hầm dã chiến không ngủ được, thao thức mãi tôi mường tượng dường như có điều chẳng lành sắp xảy ra tôi lắng nghe tiếng xe cộ ầm ầm chở người di tản chạy về phía phi trừờng, và tôi ngủ thiếp đi trong tiếng rì rầm của những chiếc máy bay cất cánh suốt đêm hôm ấy..
11 giờ sáng 30 tháng 4, sau khi nghe lời tuyên bố đầu hàng của ông Dương Văn Minh. Tôi bàng hòang mục kích cảnh tượng ngày tàn của một đât nước, quần áo, ba lô giầy dép, súng ống vương vãi đầy trên mặt đường…Mọi người nhìn nhau ngơ ngác, buồn vui chen lẫn sợ hãi như vừa phải rơi vào một cõi hỗn mang..Tiếng súng đâu đó còn vọng lại…Bầu trời nặng trĩu những đám mây xám xịt cũng như tâm hồn tôi đang trĩu nặng một nỗi đau của sự mất mát.
Từ đầu cầu Băng Ky, lần đầu tiên tôi trông thấy những người bộ đội Bắc Việt cùng đòan xe tăng đang từ từ tiến vào thành phố. Dưới chiếc nón cối tôi nhìn thấy họ hình như còn rất trẻ,cùng một dòng máu đỏ da vàng, cùng một thời tuổi trẻ với bầu nhiệt huyết nhưng bây giờ họ là kẻ chiến thắng và tôi vô hình chung đứng về phía những người chiê'n bại, những người thuộc chế độ cũ, những thành phần giai cấp tiểu tư sản thiếu giác ngộ cách mạng..vv..và vv..
Mặc dù lúc đó tôi chưa rời nhà trường, chưa hề bước chân vào đời, tuổi trẻ của tôi như trang giấy trắng chưa hề có một tì vết, nhưng lúc này là lúc tôi bị giao động cùng cực giữa trắng đen. Thực hư..cái gi là chân lý..
Chỉ sau một đêm thức dậy cả một chính thể bị sụp đổ, cả một quân đội bị tan rã, cả một xã hội bị đảo ngược và cả con người cùng phải bi gột rữa tẩy não …Và người Cộng Sản huyênh hoang với tất cả từ ngữ đẹp nhất, nào là chuyên chính vô sản, làm chủ đất nước, cơm no áo ấm, công bằng hạnh phúc, độc lập tự do, liêm chính chí công , đầy tớ của nhân dân ..vv và vv..Tất cả chỉ là những khẩu hiệu vô nghĩa bao hàm sự lừa mị, gian dối và xảo quyêt..Nhưng cái đau khổ nhất là chính bản thân tôi và nhiều người Sài Gòn lúc đó cũng đà bị cuốn vào vòng xóay của cái cỗ xe giết người khổng lồ đó mà không hề hay biêt..Và cứ như thế tôi đã sống với nguời Cộng Sản đã gần hai mươi năm. Hai mươi năm tưởng là đã nhuộm đỏ minh theo màu cờ máu, tưởng là tôi đã chôn kín cái lý lịch bị bôi đen vì có ba người anh học tập cải tạo và hai người thân ở nước ngòai.
Tên chủ tịch phừơng lúc đó là một tay nằm vùng đã từng ăn dầm ở dề trong nhà tôi, với cái nghề thợ mộc bố mẹ tôi đã giúp đỡ hắn lúc sa cơ lỡ vận nhưng khi trời sập 30 Tháng 4 lên nắm quyền thế trong tay. Hắn quay đầu lai trù dập gia đinh tôi, mỗi lần tôi lên phường giấy tờ là trái tim tôi muốn vỡ ra vì sợ hãi và tức giân.. Hắn đã thẳng tay phê phán vào tờ lý lich xin thi vao đại học cua tôi là gia đình tôi thuộc thành phần di cư cần đi vùng kinh tế mới, bản thân chưa có tinh thần yêu lao dộng và nặng đầu óc tiểu tư sản, xa rời quần chúng cần phải đi thanh nien xung phong ...
Từ nay cổng trừơng đại học vĩnh viễn khép chặt cánh cửa ,tôi bị vứt vào cuộc đời để lăn lộn kiếm sống. Trong ba năm thi rớt đại học, lại không xin vao công ty ,xí nghiệp nào được, để yên thân tôi vào phường tham gia phong trào xóa nạn mù chữ và dạy bổ túc văn hóa cho những trẻ em nghèo thất học cùng những người già mù chữ. Đây là thời gian tôi được gần gũi đồng bào nghèo khổ của minh..Tuy làm việc không lương nhưng với tôi đây là niềm hạnh phúc lớn vì mình còn được làm việc, còn được cái giá trị là con người hữu ich..Thời gian này các anh tôi dều đi tù trong những trại cải tạo, bố mẹ tôi lại phải chắt bóp từng gói đường, thịt rang, mắm khô, thuốc men để lặn lội đi thăm nuôi. Anh cả lúc đầu ở Suối Máu, Long Khánh, sau bị đổi ra tận Vĩnh Phú. Còn anh thứ bị kẹt lai là hàng binh trước 75 anh bị đi tù tân Quảng Trị -Thừa Thiên...Bố mẹ tôi cũn phải gồng gánh lội mấy cánh đồi trọc để tiếp tế nuôi con...
Mấy năm sau đó nhờ bác tôi là cán bộ ở ngòai Bắc vào làm giấy bảo lãnh tôi vào học Trung học Sư phạm để ra đi dạy học .Mở đầu một khúc quanh mới của đời tôi. Lần đầu tiên tôi được tiếp xúc với cái gọi là nhà trường xã hội chủ nghĩa, các thầy cô miền Bắc rất nhiệt thành, nhưng cũng rất khuôn khổ với một chương trình học nhồi sọ sặc mùi tuyên truyền chính trị.. Nào là chủ nghĩa vô sản sẽ là đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản...Văn học thì chỉ được học Tố Hữu với " từ ấy trong tôi bừng nắng hạ, mặt trời chân lý ch'oi qua tim " ..Nhưng lý thuyết chỉ là một màu chì xám xịt, mà thực tiễn mới là một cây đời mãi mãi xanh tươi…Trong trí óc non nớt và ngây thơ của tôi ngày ấy cái gì cũng qúa đẹp qúa hay, tôi đã ngưỡng mộ cái lý tưởng sống vì mọi người rồi tôi tâm niệm mình sẽ đi theo lối sống đó cho đến mãi về sau này tôi mới thấu hiểu được hết đươc cái cốt lõi đích thực của người Cộng Sản. Tất cả chỉ là sự giả trá khéo che đậy, sự phỉnh lừa lấp liếm của chế độ từ thế hệ này sang thế hệ khác. Thật là tội nghiệp cho tuổi trẻ của chúng tôi, một thế hệ chịu nhiều thiệt thòi và mất mát…
Biết bao mồ hôi đã đổ xuống những công trường, nông trừơng xa xôi, những lần đi lao động ngâm người dưới những sình lầy tôi tự hỏi tôi là ai? Tôi đang đi về đâu? Tôi phải làm gì cho tôi được sống hữu ích để được chia gánh nặng trên đôi vai gầy của bố mẹ tôi đã vất vả hy sinh quá nhiều cho chúng tôi có được hôm nay..Cứ mỗi lần nhắm mắt lại tôi lại thấy hình ảnh bố tôi khuôn mặt sạm đen vì nắng cháy, đang oằn mình trên chiếc xe đạp vượt dốc cầu khi thì chở mẹ tôi đi chợ. Gia đình tôi vẫn sống quây quần bên nhau, mẹ tôi vẫn thức khuya dậy sớm, có rau ăn rau có cháo ăn cháo, Bàn tay của mẹ tôi lại thêm chai sần vì cuộc sống cần lao, vất vả …
Lúc này tôi đã ra đi dạy với một đồng lương giáo viên thật khiêm tốn, trong vòng gần mười năm đi dạy với một lòng yêu nghề, yêu trẻ, tôi đã có biết bao lớp học trò thân thương. Đây chính là niềm an ủi ngày ấy của tôi..và cứ như thế tuổi trẻ của tôi đã trôi qua phẳng lặng và buồn tênh như mặt nước của dòng sông cạnh ngôi nhà tôi ở..
Dòng sông mang theo những hòai niệm thưở ấu thơ và cả những ước mơ thầm kín của một thời con gaí…
Houston 19-4-2011
Thứ Tư, 13 tháng 7, 2011
Thứ Hai, 11 tháng 7, 2011
ký ức tuổi thơ
KÝ ỨC TUỔI THƠ
by Soan Phi on Wednesday, June 8, 2011 at 1:02am
Tôi đang bắt đầu viết những dòng chữ đầu tiên cho trang blog mới mở. Không khó khăn mấy như khi hồi nhỏ viêt những bài luận văn mà tôi hằng yêu thích .Tôi còn nhớ mãi một bài luân văn năm tôi học lớp đệ thất viết về một thị trâ'n nhỏ hồi ấy tôi vẫn được theo bố mẹ đi bỏ thuốc quảng cáo ở những huyện lỵ quanh thành phố..
Còn bé xíu mà tôi đà cảm nghiệm được cái đìu hiu của những làng quê xa..một phiên chợ nhỏ lèo tèo người buôn bán, nhũng đứa trẻ mặt mũi nhem nhuốc ngồi chơi nghịch trước hiên nhà. Tiếng động xe cộ hồi ấy vỏn vẹn chỉ là tiếng xe ngựa lộp cộp trên đường..và trong cái im lặng tĩnh mịch của buổi trưa hè còn có âm vang kẽo ket của chiếc võng đu đưa hòa với lời ru êm êm của người mẹ già...
Thế giới trẻ thơ của tôi lúc đó còn có những chiều chạy rong trên những cánh đồng rộng mênh mông sau nhà, để nghe tiếng gío reo vùn vụt bên tai, để mắt mãi mê theo những cánh diều đủ màu sắc đang phần phật bay về tận cuối chân trời xa thẳm. Ngôi nhà, nơi tôi gia đình chúng tôi đã sinh sống ba mươi mấy năm trời nằm cạnh quốc lộ số một dưới dốc chân cầu Băng Ky sau này lớn lên có những dịp đi chơi đâu xa về tôi còn nhớ như in cái cảm giác xôn xao chỉ muốn chân mọc cánh để bay nhanh về cái tổ ấm thân thương để trông thấy bóng dáng quen thuộc của mẹ đang nấu cơm , bố đang ngồi đọc báo, vừa qua giữa cầu tôi đã nhìn thấy cái mái nhà cũ kỹ với bức tường quét màu vôi quen thuộc. Ngôi nhà của tôi được bao quanh bởi một khu vườn cây cối rậm rạp với cái cổng gỗ sơn trăng bạc màu đứng dưới bóng râm của tàng cây trứng cá ... Chung quanh khu tôi ở có những xưởng cưa gỗ ngày đêm với tiếng động của máy cưa xẻ gỗ âm vang thật rền rĩ buồn tênh. Những ngày bố mẹ tôi đi giao hàng ở tỉnh xa , nhà chỉ còn lại mấy anh chị em , đứa lớn trông đứa bé,tôi vẫn còn nhớ như in những cảm xúc hồi nhỏ ấy. Vừa thức dậy sau giấc ngủ trưa ra ngồi ở ngạch cửa không thấy bố mẹ đâu tôi thường tủi thân khóc nhè báo hại ông anh của tôi phải dỗ dành mãi tôi mới nín. Đối diện nhà tôi hồi ấy là nhà của ông đốc Tài, đó là căn nhà lầu hai tầng duy nhất trong vùng được xây theo kiểu mới. Phía sau là những căn nhà mái tôn, mái tranh chen lẫn sau những lùm cây xum xuê, hàng cây cau uốn mình theo thửa ruông mênh mông thẳng tắp còn có môt đường ray xe lửa cũ kỹ từ thời Pháp thuộc để lại thỉnh thỏang tôi vẫn nhìn thấy đòan tầu nhả khói đen kịt xình xịch đi qua và tiêng còi tàu tu tu vọng lai..
...Ký ức của tôi còn in đậm những buổi sáng trời đổ cơn mưa lớn làm ngập lụt cả nhà,tôi ngồi trên tấm phản thò hai chân xuống để nghịch nước, bố tôi ngồi nghe tin tức từ cái radio nhỏ xíu còn mẹ và chị tôi thổi cơm bằng một cái cái bếp dã chiến ...Cơm mẹ tôi nấu tôi thì lúc nào tôi ăn cũng rất ngon miệng và không thấy no...Vì vậy mà hồi nhỏ tôi béo tròn cứ như quả mít nên mẹ tôi vẫn gọi tôi là con lùn hay con lật đật…Chắc là vì hồi nhỏ tối ngày tôi té lên té xuống như con lật đật ...
Hồi ấy, chắc là tôi còn bé lăm Bố tôi theo học lớp săn bắn và thường vắng nhà để đi săn băn trên rừng . Tôi còn nhớ nhũng buổi tối,mẹ tôi bế tôi trên tay ra đứng ở ngòai đường để ngóng trông bố tôi về ..các anh chị tôi xúm xít đứng vây quanh nghe mẹ kể chuyện ngày xưa mấy đứa nhỏ thì chơi năm mười bịt mắt bắt dê, cá xấu lên bờ ...Tôi ngày đó còn quá bé bỏng để hiểu được nỗi buồn lo trong đôi mắt mẹ , nỗi não nùng tê tái trong tâm hồn người mẹ trẻ. Phải rồi mẹ tôi dạo ấy chỉ mới ngòai 30,vẫn mái tóc uốn quăn với đường ngôi rẻ lệch, khuôn mặt trái xoan với hàng chân mày cong như lá liễu,đôi mắt mẹ thật tinh anh và lúc nào cũng như phảng phất một nụ cười bao dung.. Tuy là phải làm bộ máy đẻ năm một để cho 14 anh em chúng tôi ra chào đời,nhưng mẹ tôi lúc nào cũng giữ được vẻ ngoàii thanh lịch chải chuốt của người con gái miền Bắc. Mỗi lần mẹ ra đường là bà phải điểm trang , tôi đã từng mê mẩn ngắ'm nhìn bàn tay khéo léo của mẹ tô vẽ vòng chân mày cong vút , một chút son môi tươi tắn sậm màu làm nổi bật nụ cười hồn hậu của mẹ. Người ta thường bảo người đàn bà có dáng thắt gáy lưng ong thì rất mắn con và có khuôn mặt vượng phu ích tử chính là hình ảnh của mẹ tôi, một người mẹ Việt Nam đã sống hết cả một đời tận tụy cho chồng cho con ....Mỗi lần làm cơm xong mẹ tôi vẫn thường mời bố tôi xơi cơm trước rồi sau dó là đến các con của mẹ . Hiếm thấy khi nào mà mẹ tôi yên vị ngồi xuống vì lúc nào mẹ cũng chỉ lăng xăng nhường tất cả miếng ngon vật lạ cho chồng con . Đến cuối bữa họac những đêm khuya các con đã say ngủ thấy đói bụng mẹ mới ra bếp lục tủ chạn lấy cơm nguội có khi chỉ còn là cơm cháy đã khô cứng để ăn cùng với chút nước dưa chua..
Một hôm đi học về, không thấy mẹ đâu, tôi chạy vào phòng mẹ thì thấy mẹ tôi bị ốm đang nằm im trên giường, tôi bỏ chơi đùa cứ ngồi quanh quẩn bên giường...Hình như đây là lần đầu tiên tôi biết được tôi đã yêu mẹ tôi biết dường nào..
Còn nữa,hồi nhỏ bọn con nít chúng tôi ưa chơi trò xây nhà dựng cửa ngòai khu vườn rậm bóng cây tôi còn nhớ mãi những cây chùm bao với trái xum xuê tròn quay như quả mơ mọc chằng chịt bên hàng rào..Những ngày nghỉ học bọn tôi dong duỗi cả ngày ở một đụn cát lớn cạnh bờ sông với trò đánh trận giả mà bà chị kế tôi được tôn làm thủ lãnh...nào kiếm nào cung tên chia làm mấy phe để dàn trận địa hệt như trong ciné chúng tôi được đi xem thời đó ...Trận chiến chưa phân thắng bại ,hai bên địch và ta mặt mũi đỏ au vì giang nắng và đất cát vươn vãi đầy mặt mũi thì cả bọn đã phải tan hàng ù té chạy bán mạng về nhà vì đã chợt thấy bố tôi đang lái xe về tơi ở trên đầu cầu. Chiếc xe hơi chở hàng hiệu Austin màu xanh rất quen thuộc với chúng tôi. Thóang nhìn thấy chúng tôi ông đã đưa tay dí chào ra hiệu: chúng mày liệu về nhà ngay, không thì sẽ chết đòn ! Ngày còn nhỏ có lẽ tôi là đứa nhát đòn nhất , chỉ cần thấy bố tôi vung sợi dây thắt lưng ra là tôi đã chạy te..
Nhà đông con Bố mẹ tôi đã nuôi dạy chúng tôi theo kiểu con đàn với hệ thống quân giai rõ rệt. Anh Đạo là anh lớn nhâ't nhà thì phụ giúp bố mẹ trong viêc giao hàng, đưa đón các em đi học. Từ hồi tôi vào lớp năm tức là lớp một bây giờ, một tay anh đèo tôi đi học. Một lần, gầnTết,mẹ sai anh đi mua sơn để sơn nhà. Anh về nhà rất muộn trên tay chỉ còn có nửa thùng sơn loang lỗ …thì ra anh đã bị một băng gần rạp Đại Đồng chận đánh.Anh chỉ còn cách hất thùng sơn vào bọn chúng mới thóat chạy về đươc.
Anh Hưng là cảnh sát trưởng của bọn nhóc chúng tôi, chăm sóc việc ăn học, vệ sinh tắm rửa, cơm nứơc cho các em.Công việc anh nuôi của anh là xắn thức ăn ( thường là món chả trứng chiên với tương hột chưng mỡ hành ) trôn đều với cơm rồi phát cho mỗi đứa tô cơm đã trộn với một cái muỗng to.Mỗi đứa ôm tô cơm lại góc nhà thế mà chỉ một lóang , chỉ mấy và là chúng tôi đã thanh tóan sạch... lại chạy xếp hàng để lấy thêm tô nữa ..Tôi còn nhớ mãi những buổi tối hai mắt đã dính lại nhưng tôi vẫn phải gắng gương lên để đọc bảng cửu chương từ 2 cho đến 10. Những lần làm tóan sai thì ông thầy” hung thần “ đã xách lỗ tai của tôi quay như dế …Tuy vậy anh Hưng còn là một tay đàn guitar rất lãng tử và tôi còn được làm nhân chứng của mối tình "đám cưới đầu Xuân " của anh tôi nữa … Còn anh Cừ thì suốt ngày,giặt giũ, là ủi quần áo của cả nhà. Mặc dù bị tật nguyền câm điếc từ nhỏ nhưng anh rất đẹp trai trời lại phú cho anh cái biệt tài vẽ vời rất giỏi. Sau 8 năm học trường Cao Đẳng Mỹ thuật Gia Định anh đã trở thành chàng họa sỹ rất hào hoa. Hằng đêm hồi ấy, anh còn có nhiệm vụ kể chuyện trước giờ đi ngủ cho chúng tôi nghe. Những mẫu chuyện thần thọai đời nay theo trí tưởng tượng của anh đã làm chúng tôi say sưa, thích thú. Ký hiệu ra dấu của anh bọn nhóc chung tôi đều có thể hiểu được vì nó rất hình tượng và đơn giản.Này nhé, hai bàn tay anh cứ chụm lai là tối mà khi tay từ từ mở ra thì là trời đã sáng rồi.Câu chuyện cứ hết tối rồi lại sáng hoặc giã như là anh đang ngủ thì mơ thấy rơi xuô'ng một hầm tòan vàng bạc châu báu hệt như chuyện thần tiên Alibaba và 50 tên cướp... chỉ vỏn vẹn như thế đó nhưng nó đã gói gém tất cả ước mơ một thời rất trẻ thơ của chúng tôi.
Chị Bích là chị gái lớn nhất trong nhà đã phải chiu thiệt thòi nghỉ học sớm để bếp núc chăm việc nhà vậy mà không hiểu tại sao bọn nhóc chúng tôi còn hay chọc ghẹo chị với tên gọi "bà Sáu già bàn chân gân guốc". Chả là vì lúc đó là thời Đệ Nhất Cộng Hòa có những cuộc bầu cử vói những ap phích quảng cáo cho các liên danh ứng cử. Nào là Người nông dân với cây lúa, hoặc liên danh con trâu cày vân vân và vân vân…Thì bọn nhóc chúng tôi cũng có một liên danh để chọc phá chị tôi..Thời con gái của chị Bích tôi cũng đã trôi qua lặng lẽ như dòng sông cầu Băng Ky nhà tôi lúc chiều xuống ánh mặt trời tắt lịm trên ngọn cây thì những ngọn đèn đường cũng đã tự động bật lên tỏa ánh sáng nhạt nhòa lung linh trên dòng sông tuổi nhỏ quê nhà .
Anh Cao là em kế chị Bích , tuy là con trai nhưng ngay từ nhỏ anh đã đi chợ rất giỏi, mỗi sáng mẹ tôi chỉ cần ngóay chữ bác sĩ của bà trên trang giấy nhỏ kê toa những thức cần mua là anh có thể đạp xe về với giỏ đầy thức ăn. Ký ức của tôi vẫn còn in rõ hình ảnh anh tôi hay dỗ tôi với những viên kẹo dừa,kẹo me mua từ tiệm chạp phô của bà Chí bên kia cầu...
Riêng anh Nghĩa thì hồi nhỏ vẫn thường được gọi biệt danh "Đầu dài dài đít pờ-dô ",anh là vua phá phách chúng tôi, khi nào chơi lò cò mà anh bi thua chưa xây đuơc căn nhà nào thì anh hay ngang ngược lấy chân di di , chơi cờ thua thì anh xách tướng bỏ chạy ..Một lần anh đội đầu ông dịa di' vào mặt tôi làm tôi sợ quá khóc thét lên, hai tay tôi quơ quào tát lia lịa vào mặt ông địa không cho ông địa tới gần ..
Nói về tiểu đội năm đứa nhóc chúng tôi thì có biết bao nhiêu điều để kể. Đứng đầu là thủ lảnh Châu còn có biệt danh là Tám Hec-quynh vì tuy bé người nhưng chị rất khỏe . Đằng sau nhà tôi là một cái giếng nước ,tôi thì bé quá lại rất yểu điêu chưa bao giờ tôi xách nổi một đôi nước thế mà chị kế tôi có thể tranh với các anh trai xách nước hùynh hụych lại thêm.suốt ngày chỉ kiếm cung, súng ná tính khí của chị cứ như con trai Chị tôi lại rất mê cải lương báo hại có một thời tôi cũng mê theo Những Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài, Võ Tòng sát tẩu và rất nhiều chuyện kiếm hiệp Taù.... Về phần tôi thì sẽ nói nhiều ở phần sau.Tôi kể tiếp về 3 cậu em dưới tôi.
Trung cách tôi 2 tuổi sau này mẹ tôi bắt đội tên Lương, tính tình hơi lộp chộp nhưng anh chàng có thể ngồi cả ngày ở bờ sông để câu cá ... nhớ hồi đó Trung vẫn câu được cả rổ cá lòng tong đem về để mẹ tôi kho tiêu ăn với cơm thổi vừa chín tới thì thật tuyệt vời ! Những trưa nắng gắt em tôi đầu trần, chân đi đất lang thang vào khu bưng biền phía sau nhà để mò cua bắt ốc chân tay lúc nào cũng lấm lem bùn dất trông đúng như con nhà nông thứ thiệt. Em tôi còn có tài trồng trọt và nuôi cả đàn vịt, con nào cũng ú nù trắng mỡn... Một ngày mưa bão lớn không chợ búa gì được mẹ tôi sai anh tôi lùa bắt hai con vịt vặt lông nấu cháo ..Em tôi đã dãy nãy khóc bắt đền cả ngày ..
Kế Trung là Tuấn , không biết từ lúc nào mẹ tôi đã đặt thêm cho em tôi cái tên "con cụ Quí "chắc là phải có một điển tích buồn cười , đáng nhớ lăm... Một lần em tôi đã súyt đi lac. Lúc đó chúng tôi còn học ở trường vỡ lòng cô Năm ở phía bên kia dốc cầu.Ngôi trường làng với nhiều kỉ niệm khó quên. Mỗi sáng bọn chúng tôi đều hay đi học sớm , đi bộ qua hai chiếc cầu cây gỗ ọp ep, chạy vào vườn cây chúng tôi thường xúm xít đứa thì lắc cây mận chín đỏ đầy cành rớt xuống lộp độp bọn nhóc chúng tôi xoa xoa cho sạch rôi bỏ vào miệng xơi ngon lành. Lớ'p học là dãy ván rựa chung quanh là những cái ghế đẩu chúng tôi ngồi chụm đầu vào nhau để tập đồ từng chữ i chữ tờ ...Giờ chơi Tuấn đã lẵng lặng rời lớp đi về nhà nhưng khổ cái là lúc đó em tôi còn quá bé để có thể nhớ được đường để về, cu cậu đã đi ngươc lên phía chợ Bà Chiểu. Cô Năm và bọn chúng tôi chạy về báo tin cho bố mẹ tôi hay. Cả nhà bổ nháo đi tìm, lùng sục khắp nơi. Nhà dưới của tôi hồi ấy có cái bể to để mẹ tôi chứa nước mưa, cô Năm đã phải leo lên để coi em tôi có té ngã vào đó không? Đến giữa trưa đang lúc lo lắng vì không tìm được tung tích gì cả ,thì cả nhà reo lên mừng rỡ khi thấy chi Bích tôi dẫn cụ Quý trở về. May mắn là hôm nay chị được tan học sớm nên đã gặp được em tôi đang lang thang trên đường. Một chút xíu thôi là em tôi đã đi lạc vào đời, làm sao tìm lại được.
Viên là em út trong nhà, còn có một nickname ở nhà là Xíu là do mẹ tôi đặt.Mẹ tôi kể rằng vì em út tôi tuổi tý nên chỉ thích ăn cơm giống như tôi hồi nhỏ cũng là một dạng con đàn rất dễ nuôi…lúc lẫm chẫm thường mẹ bỏ em vào giường quây rồi để vào đó một bát cơm để em vừa ăn vừa nghịch , thế là cơm lên tận đầu tận cổ …nhìn thấy thương lắm ! Thật sự Viên chỉ là áp út vì dưới Viên còn có cu Lương chẳng may đã bị lên sài mất lúc còn chưa đầy một tuổi. Tôi còn nhớ là em út của tôi rất đẹp trông in hệt hình baby trong lọ sữa Guy-gô. Tuy còn bé xíu mà chúng tôi đã thấm được nỗi đau của sự mất mát, chia lìa.
Trở lại với nhân vật chính là cái tôi vô duyên đáng ghét, ngay từ lúc nhỏ tôi đã cảm được mình không phải người con gái xinh xắn. Hình như cái nét vô duyên đã làm tôi lúc nào cũng co rút lại trong cái vỏ sò cô đơn.Thêm nữa hình như tôi được thừa hưởng có một chút hơi phảng phất buồn của đôi mắt mẹ. Mẹ tôi bảo đó là vi lúc bà mang thai tôi thì bố tôi đã đi lên rừng biền biêt... có những đêm khuya mưa gió, bão bùng mẹ tay bế chị Châu tôi chưa đầy năm, tay mẹ ôm tôi còn nằm co trong bụng mẹ mới được mấy tháng. Tôi đã sớm nhiễm được những nỗi lo, những toan tính trong lòng người mẹ trẻ...Không hiểu sao cái trí nhớ của tôi lại phi thường đến thế. Mọi thứ tôi đều nhớ rất rõ từ những chiếc áo đầm xòe, đến mái tóc bum bê và nụ cười hở mấy cái răng sún ..Hồi nhỏ tôi còn được làm con nuôi của ông bà Tư chủ đất sau này là bố mẹ vợ cua anh Hưng, chúng tôi thường sang câu cá ở nhà chị dâu tôi , còn nhớ có một lần tôi cứ nhòai đầu ra lan can hỏi: cá đâu ? cá đâu ? Cá đâu không thấymà chỉ thấy tôi nhào đầu xuống đám dừa nước. Bị lỗ đầu máu me tùm lum ông Tư phải xé điếu thuốc lá để dịt vào cầm máu cho tôi ...Bây giờ tôi vẫn sờ thấy vết sẹo tròn quay trên đỉnh đầu, đúng là một kỷ niệm nhớ đời .
Tuổi thơ của tôi trôi qua thật êm đềm với những ngày hạnh phúc bên bố mẹ, anh chị em đông vui đầm ấm. Bây giờ thỉnh thỏang tôi được nghe lại lời những bài hát quen thuộc từ một chương trình phát thanh Việt nam thì tôi như sống lại cả một không gian của kí ức nhạt nhòa. Cho tôi đi lại từ đầu, mẹ tôi ngồi khâu áo, bên ngọn đèn dầu hao , cha tôi ngồi đọc báo....Phải rồi , tôi đang đi lại từ đầu với những bước đi thật chậm ...
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)